Đặc san báo Đuốc Thiêng - Chủ bút Mục sư Nguyễn Văn Bình



Điều rất cần cho chúng ta - Mục sư Trần Hữu Thành

Đuốc Thiêng 103, tháng 11 năm 2010


Có điều rất cần cho mỗi chúng ta phải suy nghĩ về cuộc đời của chính mình, đó là tại sao chúng ta phải thờ phượng Ông Trời? Tại vì Ngài là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ trời đất. Chỉ có một mình Ngài có thẩm quyền tuyệt đối trên muôn loài vạn vật, kể cả loài người. Kinh sách dạy: Thiên sanh nhơn, nghĩa là Ông Trời sanh ra loài người. Chúng ta là con của Ngài. Ngài là Đấng sanh ra và nuôi dưỡng chúng ta. Ngài nuôi dưỡng bằng cách điều hòa thời tiết cho có gạo, nước, dưỡng khí và nhiều vật cần dùng khác... Những vị Đạo đức cao trọng trên thế gian chỉ là những người Thầy tốt, dạy những điều lành, nhưng không phải là Cha sanh ra chúng ta. Vậy mà nếu chúng ta không biết ơn Ông Trời, không thờ phượng Ông Trời theo cách đẹp lòng Ngai mà lại đi thờ phượng ai khác, thật là có tội rất lớn với Ông Trời.

Kính thưa quý vị,

Có một sự thật mà ít khi chúng ta suy nghĩ đến. Đó là mỗi chúng ta không tự tạo ra được chính mình để có mặt trên đất nầy. Vậy thì sự có mặt của chúng ta trên đất là ngẫu nhiên sao? Không phải như vậy. Vì mỗi một con người chúng ta thật là quý báu, cho nên sự hiện diện chúng ta trên đất phải có một ý nghĩa tốt đẹp, chớ không phải là một sự tình cờ may rủi. Dù chúng ta không biết hết những điều thuộc về cuộc đời của mình, nhưng có một Đấng biết rõ mọi sự về chúng ta. Đấng đó là Ông Trời, vì Ngài đã tạo dựng mỗi chúng ta.

Ông Trời là Đấng Tạo Hóa. Chúng tôi gọi Ngài là Đức Chúa Trời, là Thượng Đế, là Đấng Hằng sống, là Cha Thiên Thượng, là Cha Từ Ái. Cho nên khi đề cập đến những Danh xưng nầy, là chúng tôi nói đến Ông Trời.

Ông Trời tạo dựng chúng ta. Ngài cho chúng ta có hai giai đoạn sống, đó là:

-Giai đoạn sống tạm trên đất, và
-Giai đoạn sống đời đời.

Giai đoạn sống tạm trên đất trong khoảng trăm năm để chuẩn bị cho giai đoạn sống đời đời sau khi qua đời, từ giã cõi trần.

a) Trong giai đoạn sống tạm trên đất, ai cũng bất toàn. Nếu những tội lỗi chúng ta đã được tha thứ, chúng ta có sự thông công mật thiết với Cha Thiên Thượng là Đức Chúa Trời, thì khi giai đoạn sống tạm trên đất chấm dứt, chúng ta sẽ có giai đoạn sống đời đời phước hạnh với Cha Thiên Thượng trên trời.

b) Ngược lại, trong giai đoạn sống tạm trên đất, nếu tội lỗi chúng ta chưa được tha thứ, chúng ta không có sự thông công mật thiết với Cha Thiên Thượng, thì khi giai đoạn sống tạm trên đất chấm dứt, chúng ta sẽ bị phân cách với Cha Thiên Thượng vĩnh viễn và bị hình phạt đời đời vì tội lỗi của chính chúng ta. Vì Ngài là Đấng thánh khiết cho nên nếu tội lỗi chúng ta chưa được tha thứ thì chúng ta không được sống với Ngài.

Khi Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta, Ngài muốn mỗi chúng ta đều là những người con yêu dấu của Ngài, để giữa Ngài và chúng ta luôn luôn có tình thân ái Cha-con với nhau. Nhưng tiếc thay, chúng ta không chịu vâng theo ý Cha Thiên Thượng mà lại vô tình hay cố ý làm nhiều điều lỗi lầm theo ý riêng của mình.  Những lỗi lầm đó làm cho chúng ta càng lúc càng xa cách Đức Chúa Trời, rồi vì xa cách Đức Chúa Trời thánh khiết chúng ta càng ngày càng phạm tội thêm. Nhưng cảm ơn Đấng Tạo hóa là Cha Từ Ái của chúng ta, dù chúng ta phạm tội, Ngài vẫn thương yêu và sẵn sàng tha thứ những lỗi lầm chúng ta, và quý hơn nữa, Ngài bằng lòng chấp nhận” chúng ta, nếu chúng ta chịu trở lại làm con cái của Ngài.

Nếu trở lại làm con cái của Cha Từ Ái thì chúng ta phải làm sao? Phần sau của bài viết nầy có đề cập đến.

Câu hỏi là bây giờ tình trạng cuộc đời của chính quý vị ra sao?

1. Quý vị đã được Cha Thiên Thượng chấp nhận trở lại chưa? Hay quý vị vẫn còn xa cách Cha Thiên Thượng của mình và đang phải bâng khuâng không biết cuộc đời của mình có ý nghĩa gì, và rồi linh hồn mình sẽ ra sao khi mình qua đời? Nếu vậy, xin quý vị hãy dành một ít thời gian để đọc bài viết nầy để quý vị có thể tìm thấy giải pháp tốt lành cho cuộc đời của chính quý vị. Vì trong bài viết nầy có ghi lại những Lời Yêu thương của Cha Thiên Thượng gởi đến cho quý vị.

2. Hay là quý vị đã được Cha Thiên Thượng chấp nhận trở lại làm con yêu dấu của Ngài rồi? Nếu vậy, thật là một phước hạnh lớn lao mà Cha Thiên Thượng đã ban cho quý vị. Xin quý vị hãy dành thời gian để đọc bài viết nầy, để có thêm tài liệu làm chứng lại ơn cứu chuộc của Cha Thiên Thượng cho nhiều người khác, để họ biết thế nào là tình yêu ngọt ngào mà Ngài đã dành cho quý vị, và Ngài cũng đang dành cho những người chưa biết đến Danh Ngài. Quý vị ơi, lẽ nào được ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời rồi quý vị yên lặng sao?

Xin mời quý vị cùng đọc.

VỀ ĐỨC CHÚA TRỜI

I. QUÝ VỊ NGHĨ CÓ ĐỨC CHÚA TRỜI KHÔNG?

Khi tạo dựng loài người, Ông Trời đã đặt cho loài người có lương tâm để loài người biết rằng có Ngài, dù không thấy Ngài. Người Việt Nam kêu: "Trời ơi!"” Người Anh gọi: "Oh! My God!" ”Người Do thái gọi: "Ôi, Đức Giê-hô-va!"

Người nông dân Việt Nam khẩn nguyện rằng: "Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày."”
 
Trong lòng người ta luôn luôn tự nhủ rằng có Ông Trời. Cho nên người ta sợ Trời trả báo, sợ Trời đánh, sợ Trời hành, sợ Trời phạt.

Trong đời sống, người ta nói ăn cơm hột ngọc Trời ban, uống nước Trời cho, thở không khí của Trời. Đến ngày nào đó Trời kêu ai nấy dạ. Sau khi dạ, sẽ chầu Trời.

Khi chúng ta thấy muôn loài vạn vật thì chúng ta biết chắc chắn phải có một Đấng có quyền năng thật là lớn lao thì mới có thể tạo nên muôn loài vạn vật được. Đấng đó là Ông Trời, chúng ta gọi là Đấng Tạo Hóa, hay gọi là Đức Chúa Trời.

Thật ra thì chỉ cần việc nhỏ là cái nhà chúng ta đang ở, đâu phải là tự nhiên mà có. Cái nhà phải do người thợ xây cất. Thế thì sao mà cả bầu trời và vũ trụ lại tự nhiên mà có được? Phải là do Đức Chúa Trời Quyền năng tạo dựng nên.

II. ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ ĐẤNG TẠO HÓA

Kinh Thánh xác nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa, vì Ngài là Đấng tạo nên muôn loài vạn vật.

1. Kinh Thánh chép: "Đức Chúa Trời dựng nên loài người như hình Ngài... Ngài dựng nên người nam cùng người nữ."” (Sáng thế ký 1:27)

2. Kinh Thánh chép: "Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó."” (Xuất Ê-díp-tô-ký 20:11a)

3. Sách Nho cũng dạy: "Thiên sanh vạn vật, duy nhơn tối linh."

VỀ LINH HỒN

I. LOÀI NGƯỜI CÓ LINH HỒN KHÔNG? TẠI SAO?

1. Loài người có linh hồn.

Về phương diện thể chất, chúng ta nhận thấy loài người và loài vật đều được tạo nên từ những hợp chất hóa học căn bản, cơ thể chúng ta và loài vật đều chứa hơn 70% là nước. Vì vậy, nếu loài người không có linh hồn, thì loài người không khác gì loài vật và không quý hơn loài vật. Nhưng thật sự thì loài người khác hơn loài vật và quý hơn loài vật vô cùng. Sở dĩ như vậy là vì loài người có linh hồn, Thượng Đế cũng ban cho con người có lý trí, có tình cảm và sự khôn ngoan để nhận biết Ngài.

2. Linh hồn của một người quý lắm:

Linh hồn hay thể xác của loài người đều rất quý. Riêng linh hồn thì thật là quý. Kinh Thánh nói: "xác chẳng có hồn thì chết." (Gia cơ 2:26). Đối với người chết, dù chúng ta có yêu thương bao nhiêu đi nữa thì chúng ta cũng phải đem thể xác người chết đó đi chôn hoặc thiêu hủy mà thôi. Vì linh hồn người nầy đã lìa thể xác.

3. Đức Chúa Trời tạo dựng nên linh hồn:

Tiên tri Giê-rê-mi chép: "Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, là Đấng đã làm nên linh hồn nầy cho chúng ta."” (Giê-rê-mi 38:16)

Đức Chúa Trời phán: "Các linh hồn mà Ta đã dựng nên..." (Ê-sai 57:16)

Đức Chúa Giê-su phán một lời rất quan trọng về linh hồn rằng: "Người nào dù được cả thế giới mà mất linh hồn mình, thì được ích gì?" ”(Ma-thi-ơ 16:26 BDM)

Khi nói "mất linh hồn"” là Chúa Giê-su có ý nói linh hồn bị hình phạt đời đời trong Hồ lửa.

II. KHÔNG THẤY LINH HỒN, TÔI KHÔNG TIN?

Nếu nói: Vì tôi không thấy Đức Chúa Trời và không thấy linh hồn nên tôi không tin. Quý vị nghĩ sao?

Chúng ta không nhìn thấy tình thương nhưng chúng ta biết cha mẹ yêu thương chúng ta. Chúng ta không thấy lương tâm, lý trí, nhưng chúng ta tin có lương tâm, lý trí. Chúng ta không thấy dưỡng khí, nhưng chúng ta tin là có dưỡng khí để cho chúng ta thở... Cứ nhìn vào trật tự vận hành của vũ trụ, sự cao cả của nhân vị con người mà ta biết có Đức Chúa Trời tạo dựng muôn vật và tạo dựng con người có linh hồn.

Trên đời nầy rất nhiều điều hiện hữu dù chúng ta không thấy, nhưng chúng ta phải tin là có.

VỀ KINH THÁNH


I. LỊCH SỬ:

Kinh Thánh có cả thảy 66 sách khác nhau, được viết bởi 40 người trong khoảng 1.590 năm. Những người viết Kinh Thánh được gọi là "Trước giả Kinh Thánh, "”vì họ không tự viết theo ý riêng, nhưng viết theo sự hướng dẫn bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh gồm có hai phần: Cựu ước và Tân Ước. Cựu Ước nói về Giao ước của Đức Chúa Trời với loài người, qua tuyển dân của Ngài là dân Do Thái. Tân Ước nói về Giao ước của Đức Chúa Trời với loài người, qua Con Ngài là Đức Chúa Giê-su.

Đến nay Kinh Thánh đã được dịch ra hơn 420 thứ tiếng. Riêng phần Tân Ước đã được dịch ra hơn 1.100 thứ tiếng. Kinh Thánh là quyển sách có nhiều người đọc nhất thế giới.

Quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh là sách Sáng thế ký, do Môi-se viết cách nay khoảng 3.500 năm. Quyển sách cuối cùng của Kinh Thánh là sách Khải huyền, do Sứ đồ Giăng viết cách đây khoảng 1.915 năm. Vậy thì Kinh Thánh là quyển sách đã có hàng ngàn năm, nhưng không bao giờ lỗi thời. Vì Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời cho mọi thời đại, vì "Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình." ”(II Ti-mô-thê 3:16)

II. CÁC TRƯỚC GIẢ KINH THÁNH:

Những người viết Kinh Thánh là những người sống trong những niên đại khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nghề nghiệp khác nhau. Nhưng lạ thay, những gì họ viết đều hòa hợp với nhau và có cùng một ý chính là bày tỏ tình yêu của Thượng Đế dành cho nhân loại và phương cách Thượng Đế đặt ra để cứu tội nhân.  Có thể kể tên một số các trước giả Kinh Thánh như là:

-Môi-se là một người được nuôi như một hoàng tử trong cung vua. Ông viết 5 sách đầu tiên của Kinh Thánh, vào khoảng năm 1.440 BC.
-Giô-suê là một tướng lãnh. Ông viết sách Giô suê vào khoảng năm 1.390 BC .
-Sa-mu-ên là một tu sinh. Ông viết sách I Sa-mu-ên & II Sa-mu-ên  vào khoảng năm 930 BC.
-Sa-lô-môn là một vị vua. Ông viết sách Truyền Đạo, gọi là Giáo huấn vào khoảng năm 910 BC.
-A-mốt là một người chăn chiên. Ông viết sách A-mốt vào khoảng năm 755 BC.
-Ê-sai là một vị Tiên tri viết sách Ê-sai vào khoảng năm 710 BC.
-Đa-ni-ên là một người Do Thái bị bắt làm phu tù và bị lưu đày qua xứ Ba-by-lôn. Ông viết sách Đa ni ên khoảng năm 537 BC.
-Nê-hê-mi là quan Tổng trấn. Ông viết sách Nê hê mi vào khoảng năm 435 BC.
-Gia-cơ là em của Đức Chúa Giê-su. Ông viết sách Gia cơ vào khoảng năm AD  47.
-Phao-lô là một Luật sư. Ông viết các sách Rô-ma, 1,2 Cô rinh tô, Galati... khoảng năm AD 58.
-Ma-thi-ơ là người thu thuế. Ông viết sách Ma thi ơ vào khoảng năm AD 60. 
-Lu-ca là Bác sĩ. Ông viết sách Lu ca và Công vụ các sứ đồ vào khoảng năm AD 60. 
-Giăng là người đánh cá. Ông viết các sách Phúc Âm Giăng, thơ Giăng 1,2,3 và Khải huyền vào khoảng năm AD 90.

III. ỨNG NGHIỆM VỀ CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊ-SU:

Trước khi Đức Chúa Giê-su giáng sanh nhiều trăm năm, có nhiều lời Tiên tri đã nói trước nhiều điều về Đức Chúa Giê-su và đã được ứng nghiệm hoàn toàn, có thể kể vài vị tiên tri như:

1. Tiên Tri Mi-chê:

Tiên tri Mi-chê sống trước khi Chúa Giáng sanh khoảng 750 năm, đã nói tiên tri nơi Giáng sanh của Chúa Giê-su. Ông viết: "Hỡi Bết-lê-hem Ép-ra-ta, ngươi ở trong hàng ngàn Giu-đa là nhỏ lắm, song từ nơi ngươi sẽ ra cho ta một Đấng cai trị trong Y-sơ-ra-ên; gốc tích của Ngài bởi từ đời xưa, từ trước vô cùng." (Mi-chê 5:1)

Lời tiên tri trên đã đúng. Sứ đồ Ma-thi-ơ ghi lại: "Đức Chúa Giê-su đã sanh tại thành Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, đang đời vua Hê-rốt." (Ma-thi-ơ 2:1)

2. Tiên Tri Ê-sai:

Tiên tri Ê-sai sống trước khi Chúa giáng sanh khoảng 700 năm, đã nói tiên tri về sự sanh ra của Chúa Cứu thế rằng: "Nầy một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh ra một trai, và đặt trên là Em-ma-nu-ên." (Ê sai 7:14)

Đúng vậy, Chúa Giê-su đã giáng sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri, Kinh Thánh ghi lại rằng nàng chẳng hề nhận biết người nam nào. (Lu ca 1:34)

Tiên tri Ê-sai đã nói trước về sự chết của Đức Chúa Giê-su: "Người ta đã đặt mồ người với những kẻ ác, nhưng khi chết, người được chôn với kẻ giàu." (Ê-sai 53:9). Sau lời tiên tri nầy khoảng bảy trăm năm, khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh thì người ta đã đặt Ngài ở giữa hai tên trộm cướp "một tên bên hữu, một tên bên tả." (Lu-ca 23:33). Về sự chôn xác Đức Chúa Giê-su thì lúc đó có một người rất giàu tên là Giô sép. Ông ta sắm sẵn cái huyệt đã "đục cho mình trong hòn đá" (Ma-thi-ơ 27:60). Khi Chúa Giê-su đã chết thì chính Ông Giô sép xin xác Đức Chúa Giê-su đem chôn trong huyệt mả đá mà Ông đã làm cho mình. Nghĩa là Đức Chúa Giê-su được chôn cùng chỗ với kẻ giàu.

Lời Kinh Thánh còn ứng nghiệm nhiều điều khác nữa, nhưng chúng ta không thể kể hết trong bài viết ngắn ngủi nầy vì có trên 333 lời tiên tri trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm hoàn toàn.
(Còn tiếp)


Đuốc Thiêng 103

01 Tâm trí con người; - ĐTPÂ
02 Thơ: Xin Chúa sai con đi - Đức Huy
03 Người được Chúa sai đi - Mục sư Nguyễn Văn Bình
04 Người đàn bà ở Thêcôa - Bà Mục sư Nguyễn Văn Bình
05 Tiểu sử Thánh ca: "Giê-xu Đấng hằng yêu thương tôi" - Fanyia
06 Thơ: Yêu Chúa - Trần Nguyên Lam Bửu
07 Tìm hiểu cuộc cải chánh của Martin Luther - Diệp Dung
08 Điều rất cần cho chúng ta - Mục sư Trần Hữu Thành
09 Giêrusalem, 4000 năm lịch sử - Lạc Hồ
10 Một vài loài cây có độc tính - Dr Trương Hoàng Lâm
11 Vật đổi sao dời - Bà Lê Văn Bắc
12 Xứ Do Thái trước khi Chúa Jêsus khởi sự cộng tác - Mai Đào
13 Tin Tức - Vinh Bằng