Đặc san báo Đuốc Thiêng - Tiếng nói của Hội thánh Tin lành Việt Nam Paris (Pháp)





Xứ Do Thái khi Chúa Jêsus khởi sự công tác (phần 1/2) - Mai Đào

Đuốc Thiêng 99, tháng 02 năm 2009


Tác-giả: Roger CARATINI.
Sách: Jesus,de Bethléem à Golgotha, ấn-bản 2003, nhà xuất-bản L'Archipel, Paris.
Trích-dịch: Mai-Đào.

Giới-thiệu sách: Khi đọc tên của sách "Jesus, de Bethléem à Golgotha", nghĩa là "Chúa Jesus, từ Bết-lê-hem đến Gô-gô-tha", ta biết ngay đây là tiểu-sử đời Chúa Jesus khi ở trần-gian. Đã có hàng trăm cuốn sách làm việc này, nhưng đặc-điểm của sách này, là tác-giả kể lại nhiều khúc của lịch-sử dân Do-thái từ thời Áp-ra-ham, giúp cho chúng ta nhớ lại nhiều sự-cố xa xưa.

Lưu-ý độc-giả: Khi viết sách này, tác-giả Roger CARATINI có dụng-ý giúp cho độc-giả ôn lại cách mau-lẹ những sự-cố quan-trọng trong lịch-sử dân Do-thái. Trong sách này, những sự-cố trong Kinh-Thánh pha-trộn với các sự-cố của lịch-sử và dã-sử.

Tóm-tắt các kỳ trước: Đế-quốc Rô-ma cử một thanh-tra tên là Marcellus đến tìm hiểu tình-hình xứ Do-thái. Thanh-tra Marcellus này được một thương-gia tên là Hiram hướng-dẫn, khởi-hành từ Damas thủ-đô xứ Syrie, đến xứ Ga-li-lê, vô triền sông Jourdain, tới thành-phố Gerasa, vô xứ Samarie, rồi từ xứ Samarie đến Jerusalem, sau đó đến Bết-lê-hem, nghe kể chuyện về Chúa Jesus sanh ra được ít ngày rồi di-tản qua Egypte.

Sau khi vua Hérode chết, gia đình Joseph trở về xứ Ga-li-lê. Xứ Judée trải qua nhiều rối loạn.

Chương 8:

Thời-gian trôi qua

Thời-gian: từ năm 4 T.C.đến năm 14 S.C.(từ năm 750 đến năm 767 lịch Rô-ma)

Lời giới-thiệu: Đề-mục "Xứ Do-thái hồi Chúa Jesus sanh ra", với 7 chương từ 1 đến 7, là tên phần đầu của sách "Jesus, de Bethléem à Golgotha", đã đăng trên Đuốc Thiêng từ số 86 đến số 98.

Chắc quý độc giả đoán chừng là tiếp theo sẽ thấy phần "Chúa Jesus khởi sự công tác". Chúng ta đều biết Chúa khởi sự công tác vào khoảng tuổi 30. Có những gì xẩy ra trong khoảng thời gian trước đó? Mời quý độc giả đọc phần này.

Để tiện theo rõi, các chương được đánh số liên-tục, chương này là chương 8.

Toát-yếu chương 8

Tranh-chấp giữa hai kẻ thừa-kế vua Hérode là Archélaus và Antipas; hai người này đi Rome (năm 4 T.C., cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè).

Hoàng-đế Auguste chia xứ Palestine làm 3 phần cho 3 người: Archélaus, Antipas và Philippe ll (năm 4 T.C.).

Thư của Hiram nói về huyền thoại hài nhi Jesus (từ năm 3 T.C. đến năm  5 S.C.)

Marcellus trở lại Jerusalem, gặp lại Hiram (năm 5 S.C., cuối tháng 3 sang đầu tháng 4).

Hoàng-đế Auguste truất-phế Archélaus, đày y qua xứ Gaule, đổi xứ Judée thành thuộc-địa của Rome, đặt quan tổng-trấn đầu-tiên là Coponius.

Antipas (Hérode Antipas) vẫn được cai-trị xứ Pérée và Galilée, được phong tước đại-tiểu-vương (tétraque).

Cuộc nổi dậy võ-trang của Judas de Gamala, (còn kêu là Judas người Galilée) cuối năm 6 S.C.

Nhật-ký của Marcellus, từ năm 6 S.C. đến năm 14 S.C.:

-Truất-phế thầy tế-lễ cả Joazar, đặt Annas lên thay (năm 7 S.C.)
-Joseph và gia-đình lên Jerusalem ăn lễ Pâque. Jesus lúc này 12 tuổi, tranh-luận ở Đền thờ với các giáo-sư  (tháng 4 năm 9 S.C.).
-Quan tổng-trấn Coponius bị triệu-hồi, thay-thế bởi Ambivius (năm 9.S.C.).
-Hoàng-đế Auguste tấn-phong Tibère làm người kế-vị mình.
-Tổng-trấn Ambivius bị triệu-hồi, Amnius Rufus đến thay  (năm 12 S.C.).
-Hoàng ?? Auguste chết, Tibère nối ngôi (năm 14 S.C.)
-Quan tổng-trấn mới xứ Judée là Velarius Gratus (năm 15 S.C.)
_____________________

Jerusalem sôi sục

Không khí ở Jerusalem khi Marcellus đến,sôi sục như thể núi lửa sắp đến ngày bùng nổ. Nơi mọi hè phố, trong mọi quảng trường, quanh chợ, mọi người rất là kích động. Quanh chân núi Moria là nơi Hérode xây Đền thờ, ta gặp binh lính mang khí giới nhiều hơn là gặp thầy tế lễ. Khắp mọi chỗ, ngay cả ở quảng trường Đền thờ, người ta kêu nhau, hối nhau, tranh cãi nhau, trong  khi các hàng buôn rầu rĩ vì hàng hoá không về kịp để bán. Marcellus còn nhận xét rằng quanh đồn Antonia, là đồn lính do Hérode xây lên ở tây-bắc Đền thờ, quanh đây có nhiều sĩ quan và luật-gia, coi vẻ rất bận rộn.

Marcellus nằm ở biệt thự của bạn Hiram, như ta đã biết, chẳng quan tâm gì đến mùa xuân tới với cỏ xanh, hoa đẹp, nhưng nóng ruột chờ Hiram. Lễ Vượt qua sắp đến rồi, thì chẳng lâu gì Hiram sẽ đến. Và đúng thế, chỉ 10 ngày sau, Marcellus vui mừng thấy Hiram tiến vào vườn nhà mình, ngồi trên lưng một con la vừa mới vừa mạnh.

Marcellus mỉn cười nói:

-Anh có con la mới đẹp quá, vậy con lừa cũ đâu rồi?

-Thưa tướng công, tôi để nó cho đứa nô lệ theo hầu tôi; nay tôi đi gặp khách hàng dân bự, nên phải cưỡi lừa. Thưa tướng công, hoàng đế vẫn mạnh chứ?

-Hoàng đế vẫn mạnh đặc biệt, năm nay ngoài 60, sức khoẻ và tinh thần không ai sánh kịp. Còn xứ Giu-đê của chúng ta, thế nào?

-Xứ sở làm tôi lo, lo lắm. Các thầy tế lễ và các lãnh tụ gia đinh quan trọng đều thầm chê trách vua Archélaus, là tự phong mình làm vua dân Do thái, kế vị Hérode, thế mà chúc thư của Hérode chưa thấy công bố. Antipas, em của Archélaus, quả quyết rằng có một chúc thư khác của cha mình, đặt mình kế vị. Bà Salomê, em vua Hérode, ủng hộ anh Antipas này, cũng như một số cận thần của vua Hérode.

-Xứ Giu-đê nằm dưới quyền quan toàn quyền ở Syrie, vậy ý kiến quan toàn quyền ở Syrie ra sao?

-Là quan Sabinus, phải không?

-Phải. Quan này có gởi thơ cho hoàng đế, nhưng ta chẳng biết thơ nói gì.

-Nội dung thơ này, bà Salomê đã kể cho hết mọi quan trong triều nghe. Thơ chỉ trích tàn tệ vua Archélaus, là kẻ tham lam, bất lực, tự xưng là vua để muốn bắt buộc hoàng đế phải phong chức vua cho mình. Tướng công còn nhớ không anh Antipater, con trai đầu của vua Hérode, bị cha mình cắt cổ không lâu trước khi vua chết? Anh này trước khi chết cũng viết bài tường trình, kết tội Archélaus có trách nhiệm về vụ trong một ngày có 3 ngàn người chết ở Jerusalem. Rốt cuộc trong đám quan quyền chỉ còn 2 người ủng hộ Archélaus, một là tướng Ptolémée người giữ ấn hoàng gia, và Nicolas, anh của Ptolémée.

-Vậy theo š anh, ai phải, ai trái, giữa hai anh em Antipas và Archélaus?

-Hai anh em này, tôi biết chúng nó mà, chúng nó thường mua đồ cổ với tôi. Có thể nói với tướng công chúng nó đều là hai kẻ cướp. Cha chúng nó, vua Hérode, cũng tham, cũng ác, nhưng nhằm một mục đích, là làm cho xứ Do thái hùng mạnh, bao nhiêu vàng, bao nhiêu tiền y kiếm được đều dùng để làm đẹp cho xứ sở, xây dựng các thành phố mới và đẹp, xây dựng lại Đền thờ như thể Salomon. Nhưng hai đứa con y thì lại khác hẳn, chúng chỉ nghĩ đến mình, nếu bán được Đền thờ chúng cũng bán lấy tiền bỏ túi.

-Chúng sắp giở trò gì đây, mà thấy phố phường sôi sục thế?

-Cả hai đang sửa soạn đi cãi cho mình trước mặt hoàng đế Auguste; tôi đoán chừng chỉ vài ngày nữa là họ lên đường.

-Có ai đi theo họ không?

-Thưa có, có những nhân vật quan trọng. Phiá Archélaus, có mẹ y là bà Maltaké người Samari, có anh em Ptolémée và Nicolas, có Irénée, là một tay hùng biện. Phía Antipas, có cô mình là bà Salomê, có Antipater là con của bà này, có Sabinus, là quan tổng trấn xứ Syrie.

-Ha ha, ta ngồi đây mà tưởng tượng ra hai bọn cuớp này lao xao trong lâu đài hoàng đế. Vậy bây giờ ai cai-trị xứ Palestine nếu họ đi hết cả rồi?

-Thưa, có thể là do quan Publius Quintilius Varus, khâm sai của hoàng đế, hiện nay đang quản trị tỉnh Africa (Tỉnh này, Africa, dịch là Phi-châu (Africa), nhưng không phải là lục-địa Phi-châu theo nghĩa chúng ta có hiện nay. Vị-trí tỉnh này gần đúng với xứ Tunisie hiện nay).

Cuộc tranh cãi trước hoàng đế

Hai đoàn tranh cãi này lên đường sau lễ Pâque năm 751 Rô ma. Họ xuống tầu ở hải cảng Césarée, và khoảng 6 hay 7 tuần sau, họ đến Rô ma, đứng hầu hoàng đế Auguste. Marcellus cũng về Rô ma để theo dõi tình hình.

Tổng trấn Sabinus đã lập trước hồ sơ gởi lên hoàng đế, gồm có: 1) di chúc của vua Hérode lập Archélaus kế vị mình, thống kê tài sản do vua Hérode để lại, bài tường trình của Ptolémée binh vực Archélaus 2) bài tường trình của Antìpas buộc tội Archélaus, thơ của tổng trấn Sabinus buộc tội Archélaus, và thơ của khâm sai Varus.

Chính hoàng đế cũng triệu tập một Ủy ban đặc biệt để xét việc này.

Trước tiên hoàng đế dành lời cho Antipater, phe đối nghịch với Archélaus, Antipater biện luận như sau:

Archélaus không chịu chờ hoàng đế giải thích ra sao về chúc thư của vua Hérode, và sau đó có cho mình làm vua hay không; việc y ngang nhiên cướp ngôi vua, là việc làm bất hợp pháp. Và ngày y tự phong làm vua, tự đội vương miện cho mình, y đã giết 3 ngàn người Do thái ở quảng trường Đền thờ. Đã đành là 3 ngàn người này đáng chết, vì họ làm ô uế quảng trường, nhưng Archélaus không có quyền ra lịnh giết, bởi vì y đâu có quyền, y dùng quyền cách bất hợp pháp. Phần khác, y không có quyền hợp pháp, nhưng y vẫn làm càn, y giải chức nhiều sĩ quan của quân đội xứ Do thái, y gia ơn này khác cho dân chúng theo lời họ yêu cầu, trong khi y chưa nhận được lời tấn phong từ Rô ma; y tha bổng những tù nhân mà Hérode đã bắt giam ở trường đua; y còn có những quyết định khác nữa, mà y không có quyền làm, nguyên nhân của những lầm lỗi ấy, chỉ vì y còn quá non trẻ. Thưa hoàng đế và quš vị cố vấn của hoàng đế, y là một anh hề, một nghệ nhân giỏi chuyện giả hình; ban ngày, y làm bộ than khóc mất cha mình, nhưng đêm đến, y uống ruợu say sưa, đắm mình vào mọi lạc thú. Y nói là y thờ Chúa cách kỉnh kiền, nhưng vì y mà Đền thờ Chúa ngập đầy xác chết. Và thưa hoàng đế, tôi xin đưa lš luận chót: y tự phong làm vua, chẳng chờ hoàng đé ban lịnh cho làm, tức là y đã coi thường hoàng đế chẳng có ki lô nào. Xin kết luận là y chẳng đáng một xu ten làm vua dân Do thái.

Dến lượt phe Archélaus được nói,thì đại diện là Nicolas ra sức binh vực. Nicolas nói rằng về cuộc đổ máu ở quảng trường Đền thờ, chính là phe ly khai phải chịu trách nhiệm, vì họ đã chống lại chính quyền; rằng Hérode có di-chúc để lại đặt Archélaus làm kẻ kế tự cai trị vương quốc minh, cho nên quyền của Archélaus là hoàn toàn hợp pháp.

Nicolas vừa dứt lời, Archélaus đến quỳ trước Auguste. Hoàng đế dịu dàng đỡ y đứng lên, nói rằng y hoàn toàn xứng đáng là kẻ kế vị vua cha, nhưng sẽ có quyết định rõ ràng sau, khi đã nghiên cứu kỹ càng hồ sơ này, nói rồi hoàng đế rút vào cung.

Đoàn tranh cãi thứ ba.

Vài ngày sau, hoàng đế Auguste vẫn chưa quyết định gì, thì có đơn thỉnh cầu xin gặp, đơn do khoảng 50 người Do thái đến từ xứ Giu-đê. Đoàn người này tự xưng là đại biểu của nhân dân họ, có giấy chứng nhận của quan khâm sai Varus. Trong số này, có con trai thứ ba của vua Hérode, anh này tên là Philippe, con của bà Cléopâtre, vợ thứ 6 vua Hérode. Lại có thêm 8 ngàn người Do thái kiều ngụ từ lâu ở Rô ma, nay cũng đến gia nhập đoàn 50 người này ủng hộ Philippe. Hoàng đế Auguste ngạc nhiên, nhưng cũng chấp đơn, hẹn họ 2 ngày nữa tới gặp nhau ở đền thần Apollon, nơi đây mới có đủ chỗ cho số người đông như thế. Auguste hỏi Marcellus:

-Sao lại có chuyện vận động kỳ quặc thế này? Từ khi ta làm hoàng đế đến giờ, chưa từng thấy.

-Dân Do Thái tuy nhỏ, nhưng rất thiết tha với tín ngưỡng của họ và Luật do Chúa họ ban cho. Họ quả quyết rằng Đấng Tạo hoá nên muôn vật đã chọn họ làm dân tuyển của Ngài, không chọn dân nào khác. Thế nhưng dân tuyển này, có thể họ đã có cả một ngàn năm lịch sử, họ là dân tuyển mà suốt trong lịch sử chỉ gặp những điều bất hạnh: vùng đất mà Đức Chúa Trời của họ đã hứa ban cho Áp-ra -ham, tổ phụ của họ, thì họ phải tranh-chiến chật-vật mới chiếm được. Sau đó, thì đất nước này lại là miếng mồi của dân A-sy-ri, rồi đến dân Ba-by-lôn, rồi đến dân Perse, dân Macédoine, và giờ đây dân Rô ma.

-Đấy là  số phận của tất cả các dân tộc nhỏ bị những dân tộc lớn tới đô hộ hoặc thâu hút. Trải qua một thời gian, họ sẽ hoà vào với dân lớn. Marcellus anh thấy không ngay trong xứ chúng ta, 50 sắc dân cũ nay trở thành một dân tộc duy nhứt, là dân Rô ma. Anh hãy coi xứ Gaule, có từ 120 đến 150 sắc dân khác nhau, nhưng họ bắt đầu liên hệ với nhau, rồi chỉ một hay hai thế kỷ, họ sẽ thành một dân tộc duy nhứt. Đâu đâu rồi cũng thế...

-Thưa hoàng đế, đúng như thế, nhưng với dân Do thái, không thể có hoà đồng hoà nhập, vì cớ những tín ngưỡng tôn giáo.

-Dân xứ Gaule cũng có những tín ngưỡng tôn giáo khác với chúng ta, nhưng đâu có ngăn cản họ lần lần trở nên dân gallo-romain; với dân Do thái, ta chẳng thấy điều gi ngăn họ trở thành juif-romain.

-Có một lý do đặc biệt : dân tuyển của Đức Chúa Trời không thể trộn lẫn với bất cứ dân nào khác. Hoàng đế không thể tưởng tượng rằng theo luật của họ, một người Do thái lấy vợ  thì  phải cưới một người nữ Do thái, ai vi phạm có thể bị ném đá chết.

-Mặc kệ họ sao thì sao, ngày mai ta sẽ tiếp họ, nghe họ trình bầy.

Đoàn tranh cãi thứ ba lên tiếng.

Hai ngày sau, nơi đền thờ thần Apollon, đoàn đại biểu Do thái được lên tiếng trước, bắt đầu bằng chỉ trích vua Hérode:

"Hérode chẳng phải là vua, phải nói y là bạo chúa, bạo chúa tàn ác nhứt từ xưa tới giờ. Dưới tay y, dân chúng phải lầm than khổ sở hơn là xưa kia các tổ phụ phải khổ sở dưới tay người A-sy-ri hoặc người Ba-by-lôn".

Tiếp theo, họ chỉ trích Archélaus đã bắt đầu cuộc cai trị bất hợp pháp bằng việc cắt cổ ba ngàn người Do thái, máu đổ lênh láng trên quảng trường Đền thờ, tựa như những con sinh tế của y dâng cho Đức Chúa Trời để Ngài ban phước cho y mở đầu.

Và các đại biểu kết luận: Chúng tôi chẳng muốn làm dân của bạo chúa nào hết, chúng tôi khẩn cầu hoàng đế, xin kết hợp xứ Judée với xứ Syrie, để cho chúng tôi được sống dưới luật pháp của hoàng đế; khi đó sẽ thấy chúng tôi là ly khai hay không như chúng tôi thường bị kết tội.

Khi đoàn đại biểu dứt lời, Nicolas binh vực vua Hérode và Archélaus, rằng dân Do thái là một dân rất cứng cổ, chẳng chịu vâng phục luật pháp nào hết, rằng họ đã bắt buộc Archélaus phải ra tay ở quảng trường Đền thờ, vậy trách nhiệm về phần họ nếu 3 ngàn người đã chết.

Nicolas dứt lời, Archélaus lại đến quỳ dưới chân Auguste, Auguste thong thả kéo lên, nói rằng vài ngày nữa sẽ tuyên bố quyết định, rồi chấm dứt buổi chầu.

Chia vùng Palestine.

Tám ngày sau, hoàng đế công bố quyết định, rập theo với chúc thư của vua Hérode. Trước hết là chia vùng Palestine cho 3 anh em đến tranh giành nhau: cả 3 người được lãnh danh vị là ethnarque (tiểu vương). Archélaus được một nửa, gồm xứ Judée, xứ Samarie, và xứ Idumée. Nửa còn lại chia cho hai người kia: Antipas (sau này kêu là Hérode Antipas) được xứ Ga-li-lê, và xứ Pérée, gồm các tỉnh phía đông sông lớn; Philippe được xứ Iturée, gồm các tỉnh ở phía bắc sông lớn, là Gaulanitide, Trachonide, Batanée, Auranitide. (Philippe này sẽ được kêu là Hérode Philippe, hoặc là Philippe ll). Chia xong cho 3 người này rồi, Hoàng đế cấp đất cho Salomê, bà em vua Hérode, bà này được vài thành phố nhỏ ở phía bắc hồ Tibériade (còn kêu là biển Ga-li-lê). Vua Hérode có một người con trai thứ 4, tên là Philippe 1, từ lâu sống ở Rô ma, anh này chẳng được gì, vì không xin.
Chia đất xong rồi, chiều hôm đó hoàng đế hỏi Marcellus có š kiến gì.

-Thưa hoàng đế, chia đất như vậy là tuyệt vời, chỉ có hoàng đế mới tính ra được. Thế là từ nay vùng Palestine có yên ổn về mặt chính trị. Nhưng còn có điểm lo ngại về mặt dân sự.

-Lo ngại thế nào?

-Thưa vì cớ các giáo phái.

-Phải chăng anh muốn nói về 2 phái Pha–ri-si và Sa-đu-sê, mà anh đã giảng ta nghe nhiều lần về giáo -thuyết của họ?

-Thưa không phải. Tôi muốn nói về  phái zélotes.

-Ờ, ờ, ta nhớ rồi. Nhưng thôi, chuyện này chưa cần lo lắm Bỏ chuyện vùng Palestine đi, nói về tương lai của anh. Ta tính là để thưởng công anh, sẽ đặt anh làm tổng trấn ở một vùng trong xứ Gaule, anh chịu không?

-Thưa hoàng đế, rất cám ơn hậu tình của hoàng đế, nhưng lúc này tôi muốn ở lại Rô ma một thời gian, để viết cho xong cuốn sách về vua Hérode. Trong khi ở Palestine, tôi đã sưu tầm được khá nhiều tài liệu viết tay về chuyện này.

-Anh ở lại Rô ma, có nhớ vùng Palestine lắm không?

-Thưa không. Tôi ở bên đó chỉ khoảng một năm rưỡi; tôi nhớ là tới Damas hồi tháng 10 năm 749, bây giờ là giữa mùa xuân năm 751. Chỉ có một người bạn duy nhứt làm tôi nhớ, là anh Hiram, người Phê–ni-xi từng là hướng dẫn viên cho tôi, và có một gia đình duy nhứt làm tôi xúc động và bận tâm, là gia đình ông thợ mộc già tên là Joseph, với cô vợ trẻ tên là Marie, và đứa con nhỏ sắp đầy tuổi tôi tên là Jesus. Ở vùng Palestine, Hiram, Joseph, Marie, Jesus, đấy là 4 người tôi nhớ. Nhớ mà sẽ chẳng quên, vì Hiram hứa là sẽ viết thơ cho tôi để kể chuyện họ, ít nhứt mỗi năm một lần.

-Thằng cha bán thịt chiên ấy biết viết sao?

-Thưa hoàng đế, nó viết tiếng grec giỏi không kém gì hoàng đế và tôi, lại còn biết viết tiếng hébreu, tiếng sanscrit.

-Sanscrit là tiếng gì?

-Tiếng của các dân ở Ấn độ (Inde).

-Anh chàng Phê-ni-xi này cũng đi cả Ấn độ?

-Thưa không, vì quá xa đối với nó. Nhưng nó có khách hàng là người Ấn độ, hình như là những thầy tu, nó học tiếng sanscrit để giao thiệp thương mại với họ. Dân Phê-ni-xi phần đông đều biết nhiều thứ tiếng.  (Xin đọc tiếp Phần 2)






Đuốc Thiêng 99

01 Bao lâu? - ĐTPÂ
02 Thơ: Chúc Tết - Tiền Đăng
03 Năm mới: người mới - Mục sư Nguyễn Văn Bình
04 Thơ: Xuân về - Bình Tú Ngọc
05 Cuộn chỉ thời gian - Nguyễn Đình Bùi Thị
06 Mùa Xuân của Anh Hai Mít - Mai Đào
07 Thơ: Tết về thăm quê hương - Linh Quyền
08 Đời chẳng ai ngờ - Vinh Bằng
09 Thơ: Sống kết quả - Bình Tú Ngọc
10 Thương lắm quê hương tôi - Bà Lê Văn Bắc
11 Thơ: Cảm thương - Võ Chánh Tiết
12 Xứ Do Thái khi Chúa Jêsus khởi sự công tác - Mai Đào
13 Tiểu sử Thánh Ca - Phan Gia
14 Giêrusalem, 4000 năm lịch sử - Lạc Hồ
15 Sinh ra từ phần mộ - Mỹ Khánh Fleckner
16 Tin Tức - Vinh Bằng