Đặc san báo Đuốc Thiêng - Tiếng nói của Hội thánh Tin lành Việt Nam Paris (Pháp)





Chúa Jêsus chịu thương khó - Quyền Linh

Đuốc Thiêng 100, tháng 04 & 06 năm 2009


Chúa Jêsus vốn là Thiên Chúa Ngôi Hai, ngự đến trần gian với tư cách một kẻ hy sinh, 'Con sinh tế của Đức Chúa Trời đã được chuẩn bị' hay 'đã chịu giết từ buổi sáng thế' [Khải 13:8; Êph 1:3-6]. Thơ Hê-bơ-rơ chép 'Nhìn xem Chúa Jêsus là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời' (Hê 12:2). Thơ Phi-líp 2:5-11, Thánh Phao-lô cũng đã diễn tả về cảnh khổ nạn và vinh quang tuyệt vời của Chúa Jêsus.

I. CHÚA THIẾT LẬP LỄ TIỆC THÁNH:

1. Chiên Con Của Lễ Vượt Qua:

Nếu đem so sánh giữa Lễ Vượt Qua cua dân Do Thái và những chi tiết của Lễ Tiệc Thánh do Chúa Jêsus thiết lập chúng ta nhận thấy có những mối tương quan. Nguồn gốc của Lễ Vượt Qua ở trong Xuất Ê díp tô ký 12 mô tả dân Israel ăn lễ nầy cách hối hả để chuẩn bị ra khỏi Ê-díp-tô, từ hoàng tử của vua Pha-ra-ôn cho đến con của người tù, cùng con đầu lòng của mọi súc vật. Hễ nhà nào vâng theo lệnh truyền: có huyết của con sinh bị giết và bôi huyết lên mày cửa thì thiên sứ sẽ 'Vượt Qua' và không làm hại nhà đó.

Lễ này đã được giữ cách trọng thể trong dân Israel kể từ ngày họ ra khỏi Ê-díp-tô. Giờ đây, Chúa Jêsus cũng dự Lễ Vượt Qua, song chính Ngài là 'Con Sinh của Lễ Vượt Qua' [1 Côr 5:7].

(1) Theo tục lệ, người chủ gia đình sẽ chủ tọa buổi lễ bằng lời cầu nguyện cảm tạ, rồi sau đó họ cùng nhau ăn rau đắng và một chén rượu nho.

(2) Kế đó, gia chủ giải thích ý nghĩa buổi lễ và cả nhà cùng hát Thi thiên 113, 114. Hết thảy cùng uống chén rượu nho thứ hai.

(3) Gia  chủ tiếp tục dâng lời tạ ơn về bánh không men, bánh được bẻ ra và phân phát cho mỗi người, sau đó họ cùng ăn chung với thịt chiên con đã quay với bánh không men và rau đắng. Chủ gia cảm tạ Chúa với chén rượu nho thứ ba, gọi là 'chén phước lành'.

(4) Kết thúc lễ bằng bài ca Thi Thiên 115 - 118, họ cùng nhau uống chén rượu nho thứ tư gọi là vui mừng trong vương quốc Chúa.

2. Lễ Tiệc Thánh:

Chúng ta không biết chắc cách thức của Lễ Tiệc Thánh khác với Lễ Vượt Qua thế nào. Nhưng chúng ta căn cứ vào Kinh-Thánh về cách Chúa Jêsus đã làm:

(1) Ngài lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và nói vài lời... rồi bảo môn-đồ hãy phân phát bánh; Ngài truyền dạy bánh này tượng trưng cho thân thể Ngài sẽ bị tan nát, rồi bảo 'hết thảy hãy ăn đi'.

(2) Ngài lấy chén, tạ ơn, rồi nói 'này là huyết ta' (1 Cô 11:25), 'huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội, rồi Ngài bảo hết thảy hãy uống đi'.

(3) Mác 14:26 chép 'họ hát Thi thiên'.

(4) Lưu ý: Lu-ca 22:17-19 chép: 'việc uống chén trước khi ăn bánh' điều này có thể xảy ra theo cách của Lễ Vượt Qua: (1) Uống chén, (2) Ăn bánh, (3) Uống chén.

3. Lễ Được Trọn Trong Vương Quốc Của Cha (Mathiơ 26:29; Mác 14:25)

Cũng trong Lu-ca 22:15-16 chép: 'Ngài phán rằng Ta muốn ăn Lễ Vượt Qua này với các ngươi trước khi Ta chịu đau đớn. Vì, Ta nói cùng các ngươi, Ta sẽ không ăn lễ này nữa cho đễn khi lễ ấy được trọn trong Nước Đức Chúa Trời'.

(1) Ý nghĩa của Lễ Vượt Qua nhắc nhở dân Israel về sự giải phóng họ ra khỏi ách nô lệ xứ Ê-díp-tô và đem họ vào Đất Hứa đượm sữa và mật.

(2) Ý nghĩa của Lễ Tiệc Thánh dạy cho Hội-Thánh Chúa biết rằng, nhờ sự chết của Đấng Christ mà mọi kẻ tin Ngài được chuộc ra khỏi ách nô lệ và sự đoán phạt bởi tội lỗi. Nếu người Israel được giải thoát ra khỏi Ê-díp-tô thuộc thể, thì người Israel thuộc linh là  tín hữu của Hội-Thánh, là người được gọi ra khỏi thế gian đặng bước vào vương quốc của Cha, tức là được gia nhập vào Hội-Thánh vô hình.

Lễ được trọn trong Nước của Cha - nói lên sự giải cứu trọn vẹn, sự ra khỏi và được cất lên (rapture) để được đoàn tụ với Đấng đã hy sinh để cứu chúng ta. Đó là sự kết hợp trọn vẹn mà sách Khải huyền đã mô tả giữa Chúa là Tân lang và Hội-Thánh Ngài là Tân nương, và 'lễ cưới chiên con' sẽ được diễn ra trong hoan lạc bất tận (Khải 19:6-9).

II. SỰ THƯƠNG KHÓ VÀ SỰ CHẾT CỦA ĐẤNG CHRIST:

1. Trong Vườn Cầu Nguyện:

Tại vườn Ghết-sê-ma-nê, tiếng A-ram là 'gat semen', có nghĩa là 'nơi ép dầu'. Ông Lu-ca đã chép: "Đức Chúa Jêsus đi lên núi Ô-li-ve theo như thói quen" [Lu 22:29 so Giăng 18:1; Mat 26:30]. Nhưng trong lần ra đi này, dù Ngài biết "giờ mình phải lìa thế gian để về cùng Cha đã đến rồi" [Giăng 13:1], song linh hồn Ngài buồn bực và sầu khổ đến chết được. Đó là một sự sầu não dâng tràn tâm linh và khó diễn tả bằng lời, đến nỗi Ngài yêu cầu ba môn-đệ thân tín nhất là Phi-e-rơ, Giăng, và Gia-Cơ hãy cố gắng tỉnh thức với Ngài.

2. Lời Cầu Nguyện Với Mồ Hôi Như Huyết:

'Trong cơn rất đau thương, Ngài cầu nguyện càng thiết, mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất' [Lu-ca 22:44]. Tại sao? Chúng ta không thể hiểu hết tâm trạng đau thương của Cứu Chúa trong lúc này, chỉ biết Ngài đã thổ lộ một tâm trạng kinh hãi và sầu não; đây là lý do chữ Ghết-sê ma-nê, có nghĩa là bàn ép rượu, nó mô tả cả tâm hồn và thân thể của Cứu Chúa giống như những bồn nho đầy những trái mọng ngọt, tròn trịa, đẹp đẽ đang bị những bàn chân mạnh mẽ nghiền nát, giày đạp... và nước nho chảy ra có màu đỏ thắm như máu [Ê-sai 63:3].

(a) Lời cầu nguyện thứ nhứt:

'Cha ôi! Nếu có thể được xin cho chén này lìa khỏi con, song không theo ý muốn Con mà theo ý muốn Cha' [Mat 26:39]. Đây là chén đắng, chén tội lỗi của toàn thế gian, chén của cơn phẩn nộ mà Đức Chúa Cha thi hành cơn đoán phạt trên tội lỗi. Sở dĩ Chúa Jêsus phải cầu xin Cha cất nó đi để Ngài khỏi phải uống, bởi vì Ngài là Đấng thánh-khiết không thể tiếp xúc được đối với tội ác. Chấp nhận uống chén tức là chấp nhận tội lỗi, bị xem như tội nhân dưới mắt Thánh khiết của Đức Chúa Cha. Và cảm tạ lòng thương xót của Chúa Jêsus, Ngài không theo ý riêng, xong xin ý Cha được nên - nghĩa là nếu sự cứu rỗi nhân loại mà không có con đường nào khác hơn là 'chính Ngài phải hy sinh' - thì Ngài sẵn sàng cam chịu [1 Phi-e-rơ 2:21-24].

(b) Lời cầu nguyện thứ nhì:

'Cha ơi! Nếu chén này không thể lìa khỏi Con được, mà Con phải uống, thì xin ý Cha được nên' [Mat 26:42]. Qua điều này, chúng ta thấy Chúa Jêsus đã vâng phục Cha của Ngài cách tuyệt đối [1 Phi-e-rơ 2:8] sở dĩ Ngài phải vâng phục là vì Ngài yêu thương thế gian cách trọn vẹn [1 Giăng 4:9]. Ngài biết rằng, nếu không bởi sự đổ huyết của chính mình thì sự công bình của Đức Chúa Trời không được thỏa mãn, cơn giận của Đức Chúa Trời sẽ không được thi hành và án phạt tội lỗi không cất đi được. Nếu vậy, tội nhân sẽ mãi xa cách Đức Chúa Trời và bị hư mất đời đời.

(c) Lời cầu nguyện thứ ba:

Thánh-Kinh chép sau đó, Ngài tiếp tục cầu xin lần thứ ba, song ý nghĩa là 'lặp lại như hai lần trước'. Với sự nhận biết sứ mạng chuộc tội cho dòng dõi A-đam, Chúa Jêsus mạnh mẽ bước đến như một sự tình nguyện, hy sinh để chịu chết thay [Hê 12:1-3], Ngài dứt khoát chấp nhận uống chén đau  thương đó. Ngài đã đứng dậy và bước ra để đối diện với kẻ thù trong tư cách đắc thắng.

3. Chúa Chịu Đóng Đinh:

a. Quang cảnh lúc Chúa chịu đóng đinh:

(1) Quân lính: đây là những 'lính đánh thuê' được vua Hê-rốt trưng dụng ở xứ Ga-li-lê được thuê mướn để làm công tác xử hình các phạm nhân (Mác 14:65; Lu 23:11).

Bọn lính cũng chế giễu Chúa bằng cách mặc áo điều (sắc tía), và đặt cây trượng (cây sậy) vào tay Ngài, đó là cách chế nhạo của người La Mã (Mat 27:27-31).

(2) Chúa chết: Mác chép 'lúc đóng đinh Ngài, là giờ thứ ba, 'tức là khoảng chín giờ sáng. Có lẽ Mác bắt đầu ghi chú lệnh đóng đinh bắt đầu từ giờ ấy, vì trong Ma thi-ơ nói rõ từ 'giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp xứ đều tối tăm' nghĩa là từ giữa trưa cho đến ba giờ chiều. Đến giờ thứ chín thì Ngài kêu lên một tiếng lớn rồi tắt hơi. Ở điểm này, Giăng ký thuật rằng 'độ chừng giờ thứ sáu' là lúc Phi-Lát giao Chúa Jêsus cho bọn lính để đóng đinh Ngài theo ý họ muốn (Mat 27:45-46; Mác 15:25 so với Giăng 19:14).

(3) Gô-gô-tha và Thập tự giá: (Mác 15:44)

Gô-gô-tha tiếng Aram là gulgoltâ [Mat 27:33] nghĩa là 'Cái Sọ'. Sở dĩ có biệt danh nầy, vì ít nhất có mấy ý: có thể đó là nơi hành hình các phạm nhân, ở ngoài thành Jerusalem vẫn còn mấy cái sọ người bị thú vật đào bới lên, hoặc giả - đứng ở xa - thấy ngọn đồi nầy giống như cái sọ người, mà hai nơi đất sũng thấp xuống giống như hai hốc mắt của sọ.

Thập tự giá hay còn gọi là cây thập tự, đơn giản chỉ là hai cây gỗ giao ngang nhau, hoặc là để cây ngắn ngang qua cây dài rồi được dựng thẳng  đứng để làm trụ hình xử tử - bằng cách đóng đinh những tên nô lệ trong các cuộc chiến tranh Punic của người La Mã. Hình thập tự cơ khi là hình X hoặc T nếu chỉ trói hai tay của phạm nhân; còn thập tự treo thân Chúa Jêsus thì có hình  (thập tự giá), vì cớ phía trên đầu có treo một tấm bảng 'tội danh' bằng ba thứ tiếng Hi-bá-lai, La-tinh và Hy-lạp [Giăng 19:20]. Thường thì các phạm nhân chỉ bị đóng đinh ở hai tay, còn hai chân thì bị trói chặt để cho sức nặng của thân thể kéo trì xuống, như Giăng đã mô tả cả hai chỗ trong Giăng 20:20 và 25. Song Lu-ca 24:39-40 diễn tả rằng 'cả hai tay và chân Chúa đều mang vết đinh' [so Thi 22:16-17].

Hai tên cướp bị đóng đinh chung với Chúa Jêsus. Trong bảng tường  thuật của Lu-ca có ký thuật đầy đủ về sự quy đạo của tên cướp thư hai.

4. Sự Chôn Chúa (Mác 15:42-47; Mat 27:60, 62; Lu 23:53; Giăng 19:34, 41, 42)

Chúa tắt hơi nghĩa là chết quá nhanh. Bình thường tử tội (đóng đinh) phải cố găng chịu đựng suốt vài ngày, đến nỗi lính canh phải áp dụng luật ân-huệ là đánh gãy xương ống chân [Giăng 19:31]. Tuy nhiên, trong trường hợp của Đấng Christ: dù các xương của Ngài không bị gãy thì một viên lý hình đã thoáng đâm Ngài một nhát thấu tim làm cho 'máu và nước' tuôn xối xả đã làm ứng nghiệm các lời tiên tri trong Thi thiên 22:14; Xa-cha-ri 12:10; chú ý điều luật trong Dân số ký 9:12.

Máu và nước tuôn ra là dấu hiệu thực sự một người đã chết. 'Nước' có thể là 'huyết thanh'; tuy nhiên theo phân tích vật lý thì nước chiếm phần trăm nhiều hơn hết các chất khác trong cơ thể người - nhất là chiếm 90% trong máu. Thật ra, ở đây cảnh trạng dường như trái tim của Ngài bị vỡ và dĩ nhiên trong tình trạng mà tâm sinh lý căng thẳng, 'Nước' đã tụ tập quanh quả tim để rồi sẵn sàng vỡ ra trong giờ hấp hối. Hãy chú ý chính sứ-đồ Giăng đã quan sát cảnh trạng này, và cũng chính ông đã khẳng định rằng, Ngôi Lời của Thiên Chúa quả thật đã đến với nhân loại bằng xương thịt và Ngài đã lấy 'Máu và Nước' mà đến. Về sau, hai yếu tố ấy đã trở thành hai thánh lễ chính cho Cơ Đốc nhân là 'Báp têm' và 'Tiệc Thánh [1 Giăng 5:6-8].

'Một phần mộ mới chưa chôn ai' (Mat 27:60; Lu 23:53; Giăng 19:41). Theo phong tục của người Do-Thái thì không chôn cất như cách đào huyệt sâu xuống đất mà là đục một hang lỗ nơi vách đá, hoặc nơi sườn đồi, một đường hầm có độ sâu khoảng 10-15 mét, và có thể vào ra dễ dàng. Bên trong là đất rộng có thể mai táng cho người chết. Thế thì, đây là huyệt đã đục theo tính cách 'đế vương' vì theo cách tẩm liệm sang trọng mà Giô-sép và Ni-cô-đem đã dùng đến là 33 ký Một dược và Trầm hương không phải là ít. Là một huyệt mới được dành riêng cho Cứu Chúa. Hơn nữa, mộ mới này là của riêng Giô-sép [Mat 27:59] đã tự dọn chỗ cho mình theo như phong tục mà các vua thời xưa đã từng làm [2 Vua 21:26].

Kết luận.

Nhìn toàn cảnh về việc Chúa "CHỊU THƯƠNG KHÓ", chúng ta nhận thấy lời của tiên-tri Ê-sai mô tả trong đoạn 53 nói lên sự độc ác, nham hiểm và  ngang ngược của con người đã đối xử cách tàn nhẫn với Chúa Jêsus. Nhưng cũng bày tỏ được lòng nhân từ, yêu thương và khoan dung của cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời đối với nhân loại đang chìm trong biển tội không phương cứu chữa. Kinh-Thánh cho biết ngay từ buổi sáng thế, khi con ngườiđầu tiên là A-đam và Ê-va bắt đầu phạm tội thì "chiên con đã chịu giết" để đền tội cho con người (Khai 13:8b). Chúa Jêsus chịu chết trên thập tự giá là để trả món nợ tội lỗi cho con người. Ngày nay, mỗi Cơ-Đốc nhân được xưng là 'Thánh Đồ' là nhờ dòng huyết báu của Chúa đã đổ ra tại đồi Gô-gô-tha đã bôi xóa hết mọi tội lỗi của chúng ta. Chúng ta đã nhận được sự tha thứ, được xưng công  bình, được phục hòa với Đức Chúa Trời là bởi sự chết của Chúa Jêsus.

Nhân mùa Thương Khó này chúng ta tự hỏi lòng mình là chúng ta đã làm được gì cho chính Chúa và nhà của Chúa? Chúng ta đã chinh phục được bao nhiêu tội nhân cho Ngài? Đã bao nhiêu lần "Dự Tiệc Thánh" - Vì mỗi lần ăn bánh và uống chén thì phải hứa nguyện là "Rao truyền sự chết của Chúa cho đến lúc Ngài đến..." (1 Cô-rinh-tô 11:26). 

(Thương Khó-Phục Sinh 2009).




Đuốc Thiêng 100

01 Thiên đàng - ĐTPÂ
02 Hát nói: Ngày phán xét - Trần Nguyên Lam Bửu
03 Chúa Giê-xu chịu thương khó - Quyền Linh
04 "Các ngươi phải yêu nhau" - H4
05 Thơ: Cảm tạ Chúa Giê-xu - Linh Quyền
06 Áp-ra-ham theo lời Chúa gọi - Mục sư Trần Hữu Thành
07 Tiểu sử Thánh ca - Fanyia
08 Thơ: Lời Chúa - Đức Huy
09 Đời chẳng ai ngờ - Vinh Bằng
10 Thơ: Hè về - Đức Huy
11 Đọc "Biển rộng hai vai" của Lữ Thành Kiến - Nguyễn Đình Bùi Thị
12 Quanh ta ngậm ngùi - Bà Lê Văn Bắc
13 Giêrusalem, 4000 năm lịch sử - Lạc Hồ
14 Xứ Do Thái khi Chúa Jêsus khởi sự công tác - Mai Đào
15 Đuốc Thiêng - Người bạn đồng hành đáng yêu - Bình Tú Ngọc
16 Vài nét về Hội Đồng Giáo Hạt Pháp lần thứ 21 - TĐTN Trương Đức Huy
17 Tin Tức - Vinh Bằng