Đặc san báo Đuốc Thiêng - Chủ bút Mục sư Nguyễn Văn Bình



Thử hình dung con tàu Nôê của những ngày sắp đến - Dr Trương Hoàng Lâm

Đuốc Thiêng 104, năm 2011


1. Con tàu Nô-ê trước đây hơn 4.000 năm


Khi loài người đã bắt đầu đông trên mặt đất thì họ làm nhiều tội ác xấu xa làm cho Đức Chuá Trời không vừa lòng nên Ngài muốn trừng phạt họ. Ngài phán cùng Nô-ê làm một chiếc tàu để cứu gia đình mình và các thú mỗi thứ một loài (Sáng 6:11-22). Đây là chuyện xảy ra cách đây hơn 4.000 năm. Lúc đó Trái Đất chưa có vấn đề gì quan trọng ngoài tội ác của loài người. Môi trường sống của Trái Đất lúc đó rất tốt đẹp.

Nhưng hiện nay tộI ác của nhân loại không giảm mà còn gây cho Trái Đất phải trải qua nhiều chuyện khó khăn làm thay đổi môi trường sống.

2. Môi trường hiện nay trên Trái Đất


Nhiều vấn đề đang làm xáo trộn môi trường sống của loài người và các sinh vật. Môi trường mỗi ngày một xấu thêm và không thấy dấu hiệu Trái Đất trở lại tốt đẹp như cách đây 4.000 năm. Các vấn đề hiện nay làm thay đổi môi trường gồm sự tàn phá rừng nhiệt đới, khí hậu biến đổi, ô nhiểm không khí và gia tăng dân số v.v...

Sự tàn phá rừng nhiệt đới

Tại các vùng rừng khoảng 2/3 các loài cây và loài thú đang sống, ngoài ra hàng ngàn thổ dân trú ngụ nơi đây. Rừng cung cấp cho họ lương thực, dược liệu, nước và các vật liệu quan trọng khác. Trong khoảng 80 năm qua phân nửa diện tích rừng bị tàn phá, cứ khoảng 2 giây đồng hồ 1 diện tích bằng 1 sân vận động đã biến mất. Theo tài liệu của FIFA UEFA 1 sân vận động rộng 105 m x 68 m = 7140 m2. Nhiều loài thú và loài cây đang bị đe doạ nhứt là loài khỉ vì chúng cần 1 diện tích rộng lớn để sống. Tốc độ của sự đe doạ nhanh hơn 1.000 lần so với thời tiền sữ. Theo các nhà khoa học thì tốc độ nhanh thêm 10 lần cho đến năm 2050.

Rừng giữ vai trò quan trọng trong sự điều hoà khí hậu địa phương và toàn cầu.

Rừng của trủng Kongo rộng 1,7 triệu km2, lớn bằng 5 lần nước Đức, đó là vùng rừng nhiệt đới đứng thứ nhì trên thế giới, là nơi sinh sống của cả triệu người lùn, là nơi trú ngụ, tìm thức ăn và dược liệu. Ở trủng Kongo 95% nước từ chu trình nước của nó tức là dự trử và bốc hơi là do từ rừng của vùng nầy. Tàn phá rừng Phi Châu có thể làm thay đổi chu trình nước của toàn thế giới. Rừng cũng là nơi chứa khí CO2 , nước Cộng Hoà Kongo cho đến năm 2050 mất khoảng 40% diện tích và giải thoát 34,4 triệu tấn CO2 tương đương với số lượng của nước Đức thải trong không khí trên 40 năm, nếu lấy năm 2008 làm chuẩn.

Phi Châu chịu ảnh hưởng rất mạnh trong thay đổi khí hậu: hạn hán, ngật lụt, mưa bảo gây nguy hại cho nhiều người. Sự nghèo đói, tranh chấp, thiếu kiểm soát chánh trị, tham nhủng, nợ nần làm ch Phi Châu không thể vượt qua được các khủng hoảng.
Tại Indonesia rừng bị tàn phá mục đích trồng cây cọ dầu (Ölpalm, palmier) để pha chế sô-cô-la, margarine, mỹ phẩm. Trong 20 năm qua một diện tích rừng bằng 7 triệu ha đã biến mất. Nhiều loài thú đã bị đe doạ như cọp Sumatra, voi Sumatra, tê giác Java, Orang-Utan v.v...

Các sản phẩm như Kitkat, Rama và Lätta-Margarine, Nutella, Milka sô-cô-la, bánh Balsen, bánh Prinzenrolle, Milupa, xà bông Dove, nước mỹ phẩm Penaten, kem Nivea v.v... đều có pha chế với dầu cọ.

Tại Nam Mỹ như Bra-xin rừng bị tàn phá làm đồng cỏ nuôi bò. Nhiều đại gia xây dựng lò làm thịt bò, xưởng thuộc da, nông trường trồng đậu nành làm thức ăn nuôi bò.

Từ năm 2008 cho đến nay 70 triệu ha rừng nhiệt đới đã bị hoàn toàn tiêu diệt tương đương với 20% diện tích rừng. Tổng số bò được nuôi lên đến 63 triệu con. Sản xuất thịt bò cho thị trường nội địa, cho xuất cảng và sản xuất da tăng rất nhanh. Vào năm 2008 tổng số tiền xuất cảng da lên đến 1,9 tỷ đô-la Mỹ, thịt=5,1 tỷ đô-la Mỹ, 80% da được xuất cảng sang Hong Kong, Việt Nam, Ý cung cấp da cho các hảng Adidas, Nike, Timberland và Clarks.

Do giá thành thấp sản phẩm thịt bò của Bra-xin rất rẻ nên rất được ưa chuộng trên thị trường thế giới. Các nhà sản xuất gồm: Bertin, JBS, Independencia, Minerva.

Rừng ở Bra-xin có thể được xem như thiên đàn thiên nhiên: 20 triệu người sống tại vùng Amazona trong đó có 200.000 thổ dân gồm 180 sắc tộc khác nhau. Họ sống hoà hợp với thiên nhiên: thức ăn, dược liệu và tất cả cái gì cần thiết cho cuộc sống. Rừng ở Amazona là một đa dạng về động vật và thực vật: 40.000 loại cây, 427 loại lưởng cư và 3.000 loại cá, 427 loại thú có vú, 1294 loại chim, 378 loại rắn, rừng Amazone hấp thụ theo ước tính 80-120 tỷ tấn C, một sản lượng rất lớn chống sự tăng nhiệt độ khí hậu.

Ngoài việc đốn gỗ có giấy phép bọn Mafia gỗ đốn lậu khắp nơi, 72% tại Amazone, 61% tại Indonesia. Nước Nga là nước rất giàu về rừng nhưng bọn Mafia cũng tổ chức đốn lậu.

Gỗ và giấy nhập vào Liên Hiệp Âu Châu được ước tính từ 16-19% là gỗ lậu. Gỗ lậu là gỗ đốn là gỗ đốn ở một khu rừng không có giấy phép đốn được chở lén lút đến khu rừng có giấy phép khai thác, ở đó bọn Mafia do đút lót khai báo là gỗ mục, gỗ hư để đem đi bán với giá rất cao, thí dụ gỗ hồng (Rosenholz, bois de rose) ở vườn quốc gia Massala (Madagascar) bán sang Mỹ với giá 2.200 US Dollar/m3, sang Trung Quốc 1.000 US Dollar/m3 dùng làm dụng cụ âm nhạc.

Rừng trên thế giới có một diện tích là 4 tỷ ha, trong khoảng 8.000 năm qua 1/3 diện tích rừng bị tàn phá.

Cách sống ở các nước kỷ nghệ làm tăng vấn đề gỗ nhiệt đới, như việc sử dụng các cốc "Kaffee to go" bằng giấy bồi (Pappe) tăng lên dữ dội. Khoảng 6 tỷ cốc đựng cà phê trong năm được đưa vào thùng rác mặc dầu đó là giấy nhưng không tái sử dụng được vì nó có tráng một chất keo.

Gây nguy hại cho thực vật và động vật

Do hành động con người nhiều loại cây bị đe doạ như cây trầm hương (Aquilaria malaccensis), gỗ cho một chất dầu dùng trong kỷ nghệ, trị bệnh. Cây rất hiếm tại Bangladesch, Ấn độ, Myanmar, Mã lai, Singapur và Sumatra.

Ở Phi Châu gỗ Mahagoni, Tiama, Sapelli, Sipo rất hiếm, rừng các loại cây nầy đang bị thu hẹp. Cây Moabi (Baillonella toxisperma ) tại Kameroun, Kongo, Gabun, Nigeria do khai thác quá mức trở nên hiếm, cây Moabi dùng để lấy dầu.

Cây Pao rosa (Swartzia fistuloides) mọc tại Tây và Trung Phi Châu trở nên hiếm vì gỗ có vân rất đẹp. Cây Makoré (Tieghemella kockelii) bị đe doạ do khai thác quá mức, gỗ rất cứng chống mối và nấm, làm bàn ghế, thuyền, xe cộ.

Nhiều loại cây khác tại Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ bị đe doạ vì khai thác quá nhiều.

Nhiều loại thú cũng cùng một số phận như các loại cây thí dụ khỉ mặt đen Tây Phi (Drill, drill), chúng sống từng nhóm và rất ồn aò nên thợ săn dễ tìm thấy, khỉ Bonobo ở Cộng Hoà Kongo thịt ăn rất ngon, hắc tinh tinh (Schimpanse, chimpanzé) bị đe doạ trong các rừng ở Tây và Trung Phi Châu do săn bắn và tàn phá nơi sinh sống.

hỉ đột miền Tây (West-Gorilla) ước lượng 10.000 tại Kongo, nơi sinh sống bị thâu hẹp, khỉ đột miền Đông (Ost-Gorilla) khoảng 650 con tại vườn quốc gia Virunga bị tàn phá vì chiến tranh.

Tại Java (Indonesia) tương lai của loài vượn bạc (Silbergibbon) không ai biết được từ khi 95% môi trường sống của chúng bị tàn phá, tổng số voi Á Châu được ước tính dưới 4.000 con, chỉ khoảng 650 con cọp Sumatra, tê giác Java (tê giác một sừng) dưới 60 con ở vườn quốc gia Ujong Kulon và rải rác ở Kampuchia, Lào, Việt Nam. Tê giác Sumatra (tê giác hai sừng) đang tranh đấu cho cuộc sống tại Sumatra, Borneo, Tây Mã lai, Myanmar và Thái lan. Khỉ Orang-Utan ở Sumatra, Kalimantan, Sabah và Sarawak có một tương lai mờ mịt.

Tại Việt Nam vượn đen bạc má (Weißwangen-Schopfgibbon, Nomascus leuca genys), vượn đen tuyền (Schwarz-Schopfgibbon, Nomascus concolour), voọc mũi hếch (Tonkin-Stumpfnasen-Affe, Rhinopithecus avunculus) đang bị đe doạ trầm trọng vì khai thác rừng, canh nông và con người săn ăn thịt.

Một loại thú hiện nay được các chuyên gia chú ý là cọp. Ba phụ loài (Unterart, sous-espèce) đã biến mất trong thế kỷ vừa qua đó là cọp Kaspische, cọp Java và cọp Bali. Sáu phụ loài khác vẫn còn sống: cọp Ấn độ, cọp Amur, cọp Nam Trung quốc, cọp Đông dương, cọp Mã lai và cọp Sumatra. Cọp Sumatra đang bị đe doạ vì rừng bị tàn phá dành chổ cho đồn điền cọ dầu và đồn điền làm giấy, cọp Đông dương cũng bị đe doạ trầm trọng vì các tên săn lậu bán xương sang Trung quốc để làm dược phẩm. Trong các rừng sâu giữa Thái lan, Myanmar, Nam Trung quốc, Kampuchia, Lào và Việt Nam khoảng 350 con cọp đang sinh sống, cọp Amur khoảng 500 con; trước đây 100 năm khoảng 100.000 cọp sống tại Á Châu. Con người đang săn lậu và làm hẹp môi trường sống của chúng, hậu quả là hiện nay có khoảng 3.200. Các chuyên gia muốn tăng lên gấp đôi khoảng 6.000 con cho tới năm 2022.

Trứơc đây nhiều loại thú bị chết vì nhiều nguyên do như : núi lửa, đá tinh thạch rơi, thay đổi khí CO2. Từ 150 năm nay thú bị chết vì con người: bỏ bao plastic ngoài biển, chất độc trong không khí, thay đổi khí hậu, săn bắn bán dược liệu, săn bắn ăn thịt, khai thác rừng lấy gỗ, trồng canh nông. Một nguồn nguy hiểm khác đến từ thuốc như thuốc Diclofenac; loại thuốc nầy chống viêm là thuốc dùng cho thú ở Ấn độ trong những năm 90. Từ lúc đó 99% quần thể chim kên kên Bengal biến mất. Lý do: khi chim ăn xác thú bị xử lý bằng thuốc Diclofenac thì thận của chúng bị hư.

Ô nhiểm không khí

Ô nhiểm không khí là sự hiện diện của chất lạ hay sự biến đổi trong thành phần không khí, làm cho nó không sạch, bụi, tạo mùi khó chịu, làm giảm tầm nhìn. Các thành phần gây ô nhiểm không khí có thể ở thể cứng (bụi, bụi than), dưới hình thức ướt (sương mù sunphát) hay ở thể khí (SO2, NO2, CO, ...). Có 2 nguyên do gây ô nhiểm: thiên nhiên và nhân tạo. Nguồn ô nhiểm thiên nhiên: cát sa mạc, đất trồng bị thổi bay thành bụi, núi lửa, cháy rừng. Nguồn ô nhiểm nhân tạo: nhà máy, đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch ( than đá, dầu mỏ, khí đốt v.v...) phương tiện giao thông, đốt rác thải...

Khí quyển Trái Đất có cấu trúc phân lớp với nhiều tầng từ dưới lên trên : tầng đối lưu (Troposphäre) từ 0-15/18 km, tầng bình lưu (Stratosphäre) từ 15/18-50 km, tầng trung quyển (Mesosphäre) từ 50-80 km, tầng nhiệt quyển (Thermosphäre) từ 80-500 km.

Các chất ô nhiểm nguy hiểm đối với con người và khí quyển là SO2, CO, N2O, CFC và CO2.

Synfua dioxyt SO2 tập trung ở tầng đối lưu có nguồn gốc từ hoạt động của núi lửa và do đốt nhiên liệu như than dầu mỏ, khi đốt, quặng sunfua. Khí SO2 rất độc hại với sức khoẻ con người và sinh vật, gây ra bệnh phổi và hô hấp, tạo thành mưa chua khi gặp hơi nước và mưa.

Cacbon monooxyt CO được tạo ra do đốt nhiên liệu  hoá thạch thiếu oxy. Khí thải chứa CO2 thường là khói động cơ. CO rất độc đối với con người và động vật.

Itơ oxyt N2O do đốt nhiên liệu hoá thạch, góp phần vào hiệu ứng nhà kiến.

Clorofluorocacbon CFC được tạo ra trong ngành công nghiệp và thiết bị làm lạnh. Ở tầng cao của khí quyển CFC tạo thành Clo tác dụng với oxy cù ôzôn làm lớp ôzôn của Trái Đất bị mỏng dần. Lượng CFC tích tụ trong khi quyễn rất lớn cho nên mặc dầu hiện nay đã có nhiều quy định hạn chế sử dụng CFC nhưng phải một thời gian lâu dài mới loại trừ hết được ảnh hưởng của nó.
Metan CH4 và hydro sunfua H2S là sản phẩm phân hủy của chất hữu cơ trong đầm lầy, cháy rừng... Đó là các loại khí gây hiệu ứng nhà kiến và góp phần làm tăng nhiệt độ Trái Đất.

Cacbon dioxyt CO2 góp phần vào quá trình quang hợp cho cây xanh. Hàm lượng 0,03% của CO2 cân bằng với lượng sử dụng trong quang hợp. Nhưng hoạt động của con người do đốt nhiên liệu hóa thạch và tàn phá rừng làm mất cân bằng, gây ảnh hưởng tới khí hậu trên Trái Đất. Khí CO2 cùng vớI khí N2O, CHC, CH4, H2S tạo nên hiệu ứng nhà kiến làm bề mặt Trái Đất nóng dần. Các tản băng ở Bắc cực tan nhanh hơn người ta dự đoán, bề mặt nước biển dâng cao từ 0,5 đến 2 m trong thế kỷ 21. Hậu quả rất trầm trọng tại vùng biển các xứ nghèo như Việt Nam, Pakistan, Bangladesch và các đảo ở Nam Thái bình dương: nhà cửa, đất trồng trọt bị ngập lụt; thiên tai như bảo tố và nước ngập tăng nhiều hơn và xảy ra thường xuyên hơn. Do băng đá tan nhiều nơi thiếu nước uống, hiện nay nhiều vùng cao đã bị thiếu nước trầm trọng như Tibet, Bolivien. Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng: nếu Trái Đất nóng đến 3,5oC, 40-70% các loài sẽ chết.

Bước đầu tiên Liên Hiệp Châu Âu muốn giảm khí CO2 từ các xe hơi qua nhiên liệu sinh thái (Biosprit) bằng cách pha nhiên liệu với cải dầu (Rapsöl, huile de colza), dầu đậu nành (Sojaöl, huile de soja) hoặc dầu cọ (Palmöl, huile de palme). Đậu nành phải nhập từ Argentinien, dầu cọ từ Indonexia và Mã lai. Argentinien biến các đồng cỏ và rừng khô thành đất trồng trọt đậu nành, dầu co tàn phá rừng nhiệt đới. Chương trình thực hiện chế tạo nhiên liệu sinh thái biến đổi 69.000 km2 đất trồng trọt cho đến năm 2020 và 56 triệu tấn CO2 được thoát ra không khí, tương đương với số khí của 26 triệu chiếc xe hơi, theo ước tính của Greenpeace.

3. Con tàu Nô-ê cho những ngày sắp tới


Cách đây hơn 4.000 năm con tàu Nô-ê được tạo ra để cứu các loài thú, nhưng ngày hôm nay con tàu Nô-ê có thể để cứu con người, thú và thực vật, nói chung là bảo vệ Trái Đất. Đức Chúa Trời có nói nếu con người nhờ ơn Ngài thì con người được cứu (Công vụ 15:11). Ngài thường ở cùng chúng ta luôn luôn cho đến tận thế (Ma-thi-ơ 28:20). Ngài sẽ nắm tay hữu chúng ta (Ê-sai 41:13), vì sự yêu thương là làm theo các điều răn của Đức Chúa Trời (II Giăng 6). Đavít có nói: "Phước và sự thương xót sẽ theo tôi" (Thi Thiên 23:6) và Đấng Christ là sự sống của tôi (Phi-líp 1:21).

Vậy con tàu Nô-ê trong tương lai sẽ cứu người, đó  là ý của Đức Chúa Trời, với sự tưởng tượng nhỏ bé chúng tôi có thể nghỉ là con tàu Nô-ê được quy hoạch như sau:

3.1 Ổn định dân số

Đây là vấn đề cần được chú ý ở phạm vi toàn cầu vì dân số tăng gây ra một sự xáo trộn môi trường như phá rừng nhiều hơn, sử dụng gia tăng nhiên liệu hóa thạch, sử dụng gỗ củi và tài nguyên thiên nhiên gia tăng.

Hiện nay dân số lên đến 6,848 tỷ người. Sự gia tăng dân số ảnh hưởng đến gia tăng khí nhà kiến. Thí dụ tại Phi Châu sự gia tăng 68% khí CO2 do gia tăng dân số, tại Bra-xin con số lên đến 76%.

Gia tăng dân số làm gia tăng 70% số trâu bò và khí Me tan CH4 tăng nhiều hơn, góp phần vào sự hâm nóng Trái Đất và phá hủy lớp ôzôn.

Gia tăng dân số có nghiã là gia tăng tiêu dùng nước trong canh nông, kỷ nghệ, sản xuất năng lượng cũng gia tăng cũng như gia tăng tiêu dùng cá nhân. Hiện nay số lượng nước đang thiếu trầm trọng tại nhiều nơi.

Các nước kỷ nghệ phát triển phải giúp các nước đang phát triển về kinh nghiệm, trang thiết bị và tài chánh để thực hiện kế hoạch hoá gia đình ở mỗi quốc gia.

3.2 Phát triển nguồn năng lượng mới

Hàng năm nguồn nhiên liệu tiêu thụ có nguồn gốc từ nhiên liệu hoá thạch như dầu, than đá, than nâu, khí thiên nhiên; khối lượng nhiên liệu nầy đã thoát ra trong môi trường một lượng khí thải CO2 là 37.051.870 tấn. Năm 1750 (trước kỷ nghệ) số lượng CO2 chỉ có 280 ppm nhưng vào năm 2005 số lượng CO2 đo được là 379 ppm (parts per million = nhiều phần cho 1 triệu).

Tại Đức năm 2007, 6,7% năng lượng sơ cấp đến từ năng lượng tái sinh, gồm 0,5% nước, 1% gió, 4,9% sinh khối, 0,3% từ gỗ, củi, vỏ cây... Hiện nay tại Đức năng lượng chủ yếu đến từ than nâu 12%, hạt nhân 11%, than đá 14%, khí thiên nhiên 22% và dầu hoả 34%. Nhiều nước trên thế giới đang áp dụng công nghệ mới phát triển như xây dựng các nhà máy thủy điện, sử dụng năng lượng gió, năng lượng sinh học, khí sinh học...

Như thế nào để giử nhiệt độ chỉ tăng thêm 2o C, cho đến năm 2050 lượng khí thải phải giảm 50% so với năm 1990. Đây là lời hứa suông của 192 quốc gia tại Kopenhagen, không bắt buộc phải thực hiện. Nhưng nếu mọi quốc gia thực hiện đựơc thì đó là điều rất tốt đẹp.

3.3 Đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học rất cần thiết cho con người, sự sống còn của nhân loại. Vậy con người phải bảo vệ ở những nơi mà chúng bị đe doạ.

3.4 Giáo dục môi trường

Giáo dục môi trường tạo thái độ của con người đối với môi trường, việc nầy cần được xây dựng và áp dụng trong mọi tầng lớp xã hội thông qua mọi phương tiện sẳn có, từ việc đơn sơ như giải thích đời sống sinh vật, cây cỏ đến việc bảo vệ chúng. Giáo dục môi trường áp dụng ở trường học từ tiểu học, trung học đến đại học. Ngoài ra các nơi đào tạo cần trao đổi thông tin khoa học và kỷ thuật từ kềt quả đã gặt hái cho các hội viên khác.

Tất cả hoạt động của con người phải tập trung vào việc bảo vệ môi trường vì Đức Chuá Trời "... hủy phá những kẻ đã hủy phá thế gian" (Khải Huyền 11:18).

--------------------------------
Tài liệu tham khảo

1. Martin Kappas: Klimatologie. Spektrum, 2009
2. Greenpeace Nachtrichten: Klimakiller im Tank. Nr.1/2011
3. Greenpeace: Die Fantastischen Sieben- Die letzten Urwälder der Erde
4. Philipp Kohlhöfer: Operation geplunder Wald. Geo, April 2010
5. Sara Oldfield: Tropische Regenwälder. Pabel-Moewig Verlag, 2002
 


Đuốc Thiêng 104

01 Khắc phụng bản năng - ĐTPÂ
02 Hãy cảm tạ Chúa - Mục sư Nguyễn Văn Bình
03 Thơ: Kỷ niệm 100 năm Tin Lành Việt Nam - Trần Nguyên Lam Bửu
04 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (1/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
05 Thơ: 100 năm kỷ niệm Tin Lành đến Việt Nam - Đức Huy
06 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (2/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
07 Thơ: Tạ ơn Chúa 100 năm Tin Lành đến Việt Nam - Đức Huy
08 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (3/4) - Mục sư Trần Hữu Thành
09 Người nữ khôn ngoan - Bà MS Nguyễn Văn Bình
10 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (4/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
11 Nỗi lòng người đầy tớ Chúa - Bà Lê Văn Bắc
12 Một trăm năm Tin Lành đến Việt Nam - Mục sư Trần Hữu Thành
13 Thử hình dung con tàu Nôê của những ngày sắp đến - Dr Trương Hoàng Lâm
14 Tin Tức - Vinh Bằng
15 Thơ: Không tiếc, mãi yêu - Võ Chánh Tiết