Đặc san báo Đuốc Thiêng - Chủ bút Mục sư Nguyễn Văn Bình



Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (1/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình

Đuốc Thiêng 104, năm 2011


Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, gồm có Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, đó là chưa kể đến đa thần giáo, bái vật giáo và muôn nghìn hình thức mê tín dị đoan khác rải rác nhiều nơi trong nước.

Phật giáo, Lão giáo, Khổng giáo du nhập vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên dương lịch, đến nay hơn 2000 năm. Hồi giáo hiện diện ở Việt Nam từ thế kỷ 15, tức hơn 500 năm tính đến nay, là đạo của người Chàm ở miền Trung Việt Nam và người Chà Châu giang (Châu đốc) ở miền Nam Việt Nam. Thiên Chúa giáo (tức Công giáo) truyền đến Việt Nam từ thế kỷ 16, tính đến nay hơn 400 năm. Đạo Cao Đài xuất hiện ở Việt Nam năm 1926, đến nay được 85 năm, và Phật giáo Hòa Hảo bắt đầu từ năm 1939 đến nay được 72 năm, và riêng Tin Lành truyền bá vào Việt Nam đến nay vừa đúng 100 năm (1911-2011). Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam 100 năm, có thể chia ra làm 4 giai đoạn sau đây:

I.Giai đoạn hình thành (1911-1928)

A. Dọn đường

Theo Georges Bois, có một người tên là Jacques Pannier đã tìm thấy nơi Thư Viện Quốc Gia ở Hà Nội tài liệu theo đó thì từ thế kỷ thứ 17, có một số người Tin Lành Pháp từ Picardie theo hãng buôn Dutch East India vào Đông Dương rồi. Trong số đó có một thương gia, đồng thời cũng là nhà ngoại giao của hãng buôn ấy đến vùng châu thổ sông Hồng lập một cơ sở đầu tiên ở đó. Song không có dấu vết gì cho thấy vị thương gia Tin Lành nầy liên hệ đến việc truyền giáo cho Việt Nam.

Đến thế kỷ 18, theo sử ký , thì năm 1794, Jean-Baptiste Chaigneau, một Trung úy hải quân Pháp, theo một tài liệu nói ông là tín hữu Tin Lành, được Nguyễn Phúc Ánh phong chức Khâm Sai Cai đội, cho mang tên Nguyễn văn Thắng, về sau thăng tới chức Chưởng Cơ Tước Thắng Toán Hầu,  cùng với một số sĩ quan Pháp khác giúp Nguyễn Phúc Ánh suốt 28 năm chiến thắng quân Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu Gia Long, đặt tên nước là Việt Nam. Chaigneau cùng 3 người Pháp khác được ở lại làm quan trong triều, mỗi người được cấp cho 50 tên lính hầu, được vua Gia Long miễn lạy, chỉ xá 5 cái trong các buổi chầu, mà có lẽ ở Việt Nam không ai biết ông là người Tin Lành và chính ông cũng không bao giờ tỏ mình là người Tin Lành cho ai biết cả, vì thế, ta không biết có phải ông là tín đồ Tin Lành hay không?

Khởi từ hậu bán thế kỷ 19, tức 1850 trở đi, người Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam, đặt nền đô hộ ở nước ta suốt 100 năm. Đoàn quân viễn chinh Pháp ồ ạt đổ vào Việt Nam, đa số là người Công giáo, nhưng cũng có một ít quân nhân Pháp có đạo Tin Lành. Một số Mục sư tuyên úy Tin Lành Pháp được cử đến chăm sóc đời sống tâm linh cho quân nhân tín hữu. Có lẽ vì nhiệm kỳ ở Việt Nam không lâu, cũng không có ý định truyền giáo cho Việt Nam, nên họ không học tiếng Việt, chỉ phục vụ cho người Pháp mà thôi. Mãi tới năm 1884, Hội Truyền giáo Tin Lành cho các nước thuộc địa Pháp (Société d’Evangélisation des Colonies) thuộc Giáo Hội Tìn Lành Cải Cách (Réformée) mới gởi Mục sư Théophil Boisset đến Hải Phòng mở Hội thánh lo cho quân cán chính người Pháp và các sắc dân Âu Châu. Về sau (1902) mở thêm hai nhà thờ nữa ở Hà Nội và Sàigòn cũng chỉ dành cho người Pháp mà thôi. Nhìn thấy cánh đồng truyền giáo Việt Nam đang rộng mở, Mục sư Boisset năm 1886 kêu gọi Hội Truyền giáo Pháp mau mau gởi giáo sĩ truyền giáo đến Việt Nam, vì «cánh đồng truyền giáo rộng hơn cả nước Pháp, cửa đang mở, hãy đến ngay, kẻo trễ», thế nhưng Giáo hội Tin Lành Pháp bỏ qua cơ hội hiếm có đem Tin Lành cho người Việt Nam. Về sau, năm 1906, Mục sư Adolphe de Richmond, cựu Mục sư một nhà thờ Pháp ở Việt Nam, có lời kêu gọi đăng trên tạp chí «Foi et la vie» (Tin và sống) do Giáo Hội Tin Lành tại Pháp xuất bản, nhưng ông đã đưa ra điều kiện truyền giáo cho Việt Nam «phải có văn hóa cao, tránh đụng chạm với người Công giáo và không cần thiết khiến họ trở thành người Tin Lành, chỉ nỗ lực thay đổi tâm linh họ mà thội». Lời kêu gọi như thế không hấp dẫn chút nào, nên không ai quan tâm.

Trong khi Giáo Hội Tin Lành Pháp bỏ qua cơ hội truyền giáo cho Việt Nam, thì Thánh Thơ Công Hội Anh quốc, cơ quan phổ biến Kinh Thánh cho các dân tộc, từ năm 1820 đã cho người đến Việt Nam hoạt động, song bị cả người Việt Nam và người Pháp kỳ thị, chống đối nên quay sang hoạt động ở Thượng Hải (Trung quốc). Năm 1898, James và Lawrence, hai người Anh quốc, đi thuyền từ Thượng Hải sang Trung Việt, dọc theo bờ biển và vào các sông vừa thăm dò vừa phát sách Phúc âm bằng chữ nôm hoặc bằng chữ Hán, trong đó có lẽ cũng có cả Phúc âm Mác bằng tiếng Việt do James vừa dịch xong. Không biết có phải «Sách Tin Lành theo ông thánh Marôcô» in tại Singapor năm 1899 hiện có trong National Bible Society Edinburgh Library ở Luân Đôn (Anh quốc) là do James dịch ra tiếng Việt khoảng thời gian đó hay không? (Hiện tôi có một cuốn trong tủ sách). Nếu đúng vậy, thì Kinh thánh Tin Lành bằng tiếng Việt (sách Mác) đã được phân phát tại Việt Nam từ năm 1899 rồi. Song le, sau hai tháng nghiên cứu con đường truyền giáo và phát sách, James và Lawrence bị trục xuất vì «truyền đạo trái phép».

Năm 1902, Thánh Thơ Công Hội gởi ông Charles Bonnet, một người Pháp, sang Sàigòn vừa dịch Kinh thánh vừa hoạt động, nhưng không được kết quả, nên Hội chuyển ông ra Đà Nẵng. Tại đây, ông mua một khu đất của ông Nguyễn văn Phúc, ở giữa ga xe lửa và kho đạn của thành phố Tourane (Đà Nẵng bây giờ) dựng một cơ sở nhỏ, rồi huấn luyện các ông Âm, Lộ và Yến ra đi phân phát và bán các sách Kinh thánh Tân ước (Có lẽ bằng chữ Hán) trong các vùng thuộc tỉnh Quảng Nam. Có hai Mục sư người Pháp là Mục sư Pannier ở Hà Nội và Mục sư Richmond ở Huế yểm trợ cho công tác nầy nữa, nhưng về kết quả không thấy tài liệu nào nói tới.

Năm 1887, ở Hoa kỳ, Mục sư Albert Benjamin Simpson, một Mục sư thuộc giáo hội Trưởng Lão ở Louisville (KY), kêu gọi các Hội thánh thuộc các hệ phái Tin Lành cùng hiệp nhau mở Hội Truyền giáo với tên gọi: «Christian & Missionary Alliance» (CMA) dịch ra tiếng Việt là «Hội Truyền Giáo Phước Âm Liên Hiệp» nhằm cử giáo sĩ ra đi truyền giáo cho các dân tộc chưa nghe Tin Lành trên khắp thế giới.  Ông có khải tượng và mơ ước truyền giáo cho Việt Nam, thường đặt tay trên bản đồ thế giới cầu nguyện cho Việt Nam. Năm 1887, ông viết lời kêu gọi trên tạp chí «Word, work and world» như sau: «Miền bán đảo Đông Nam Á  đã bị  lãng quên từ lâu. Tin Lành của Đấng Christ cần phải được chiếu rọi tại vương quốc An Nam. Tại sao những người phục vụ Chúa không đặt Việt Nam ngang hàng với Tây Tạng, mở công trường truyền giáo mới cứu những linh hồn hư mất về cho Chúa».

Nhiều lần ông đến Đông Nam Á thăm dò cánh đồng truyền giáo Việt Nam. Năm 1893, A.B Simpson đến Singapor nghe Mục sư David Lelaccheuz, trưởng đoàn Truyền Giáo Liên Hiệp Châu Á Sự Vụ do ông cử sang Sàigòn nghiên cứu về báo cáo: «cánh cửa đang mở tại An Nam» thúc giục ông gấp rút cử giáo sĩ đến Việt Nam giảng Tin Lành. Khi về tới Hoa kỳ, A.B Simpson định gởi giáo sĩ đi ngay, nhưng gặp phải khó khăn vì các hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam chỉ cho các giáo sĩ Công giáo người Pháp và Tây Ban Nha được tự do truyền bá đạo thôi, còn ngoài ra đều bị cấm đoán. Do vậy, A.B Simpspon bèn cử Giáo sĩ C.H Reeves đến Quảng Tây (Trung quốc) thuộc miền Nam Trung hoa,  lập cơ sở truyền giáo kế cận Việt Nam chờ cơ hội  đưa người vào truyền giáo cho 20 triệu người Viêt Nam lúc bấy giờ.

Năm 1897, giáo sĩ Reeves và vợ thử đi từ Hoa Nam tới Việt Nam viếng tiền đồn Pháp trú đóng ở Lạng Sơn, miền bắc Việt Nam, được các sĩ quan và quân lính Pháp tiếp đón tử tế, lịch sự, ông bà hết sức mừng rỡ. Tiếp theo, năm 1898, giáo sĩ R.A Jaffray thử đi dọc theo sông Hồng đến Hà Nội nghiên cứu phương cách đặt chân vào Việt Nam truyền giáo và ông nghĩ rằng tốt nhất là tìm một giáo sĩ có quốc tịch Pháp hay Canada thì khởi đầu sẽ tiện lợi hơn. Vì vậy, trở về ông cố thuyết phục giáo sĩ Silvian Dayan, người Canada, nói tiếng Pháp, đến Việt Nam truyền giáo. Hai ông bà Dayan năm 1902, đến Hải Phòng mở cơ sở truyền giáo, nhưng suốt năm trời không làm gì được, nên ngã lòng quay trở về Hoa Nam. Với tinh thần nóng cháy và cương quyết, Hội Truyền Giáo CMA ở Hoa Nam nghĩ ra phương cách khác, mở ngay tại Long Châu (Lung Chow) một chi nhánh truyền giáo, nằm sát biên giới Việt Trung, gần tỉnh Lạng Sơn, hy vọng có cơ hội đặt chân vào Việt Nam truyền giáo, nhưng quân đội Pháp canh gác, kiểm soát gắt gao quá khó lòng vào được. Thành thử kế hoạch bất thành.

Dù thất bại nhiều lần, nhưng giáo sĩ R.A Jaffray cứ bền lòng chờ đợi cơ hội. Mùa Xuân năm 1911, hay tin ông Bonnet vì sức khỏe sắp sửa phải về Pháp, giao cơ sở Thánh Kinh Công Hội Đà Nẵng cho ông Gidoin, một thương gia người Pháp, trước khi đi, hai người quyết định bán cơ sở ở đây dời ra Hải Phòng. Hay tin ấy, Giáo sĩ R.A Jaffray cùng hai giáo sĩ Paul M. Hosler và G.Lloyd Hughes đi thuyền 3 ngày từ Hong Kong tới Đà Nẵng, thành phố cảng lớn nhất miền Trung tìm cơ sở truyền giáo. Nghe trình bày khải tượng cùng nhu cầu truyền bá Phúc âm cứu rỗi cho người Việt Nam, ông Charles Bonnet, quản nhiệm cơ sở của Thánh Thơ Công Hội ở Đà Nẵng được Chúa cảm động, bằng lòng chuyển nhượng cơ sở cùng miếng đất bên cạnh cho các giáo sĩ CMA làm trụ sở truyền giáo. Ba giáo sĩ trở về Hoa Nam lòng vui mừng khôn xiết chuẩn bị kế hoạch trở lại tiến hành công cuộc truyền giáo. Thế nhưng, lần nầy chỉ có giáo sĩ  Paul M. Hosler trở lại một mình, vì giáo sĩ R.A Jaffray được Hội Truyền giáo đề cử giữ chức vụ Giám đốc Đông Nam Á Sự Vụ cho Hội truyền giáo CMA, còn giáo sĩ G. Loyes Hughes được Chúa gọi về Nước Chúa cách thình lình. Bấy giờ, chính quyền Pháp có sự dễ dãi hơn trước, cho nên công cuộc truyền giáo trên đà thuận tiện. Nghe tin ai nấy đều mừng cảm tạ ơn Chúa.

B. Thiết lập

Ngày 18-9-1911, trung ương Hội Truyền giáo CMA đánh điện cho các giáo sĩ «xúc tiến truyền giáo cho Việt Nam ngay», đồng thời A.B Simpson lên tiếng kêu gọi các Mục sư dâng mình sang Việt Nam làm giáo sĩ truyền giáo. Liền có sự đáp ứng. Năm 1912, có 2 giáo sĩ đến Đà Nẵng. Năm 1913 và 1914, lần lượt có 7 người khác tới nữa. Tổng cộng cả thảy có 9 người, gồm 1 người Anh, 2 người Na Uy, 4 người Canada và 2 người Mỹ, tất cả có 9 giáo sĩ đến Việt Nam vừa học tiếng, vừa truyền giáo. Cuối năm 1911, giáo sĩ Hosler báo tin có một người Việt Nam đầu tiên tin Chúa, đó là ông Nguyễn văn Phúc, một nhân viên bán sách của Thánh Thơ Công Hội Đà Nẵng qua việc chứng đạo của ông Bonnet và chính giáo sĩ Paul Hosler làm báp têm cho ông nầy. Đây là trái đầu mùa cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam. Nhưng có tài liệu khác cho rằng, người tiếp nhận Tin Lành đầu tiên là một người quê ở Hòa Mỹ (Đà Nẵng), sau khi tin Chúa, ông làm chứng về ơn cứu rỗi của Chúa cho ông Phạm Thành, một thầy phù thủy, về sau, ông Phạm Thành bỏ nghề phù thủy, tin Chúa và trở thành Mục sư của Hội thánh. Nhưng vì người nầy không ai biết tên, do vậy mà các nhà nghiên cứu lịch sử tin rằng ông Nguyễn văn Phúc là người đầu tiên tiếp nhận Tin Lành cứu rỗi của Chúa Cứu Thế Giê Xu ở Việt Nam. Có tài liệu khác còn nói rằng, có một trung sĩ tên là Dương, tin Chúa trước năm 1911, nhưng không nói rõ ông nầy tin Chúa ở đâu, bên Pháp hay tin Chúa trong quân đội Pháp?

Thế là các giáo sĩ bắt đầu phân công nhau  trong công tác giảng đạo, thành lập Hội thánh khởi từ Đà Nẵng, rồi Hội An (1915), lần lần lan rộng ra nhiều nơi khác trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Khởi đầu, Hội Đồng khu vực truyền giáo của các giáo sĩ Việt Nam bầu tiến sĩ Issac Hess làm chủ nhiệm, phân phối 4 giáo sĩ ở lại Trung kỳ lo cơ sở truyền giáo Đà Nẵng (Tourane) và Hội An (Faifo), còn 5 giáo sĩ khác được chỉ định đi Bắc kỳ lo mở cơ sở mới ở Hải Phòng và Hà Nội.

Tại Đà Nẵng, một nhà nguyện bằng tranh được dựng lên vào ngày 30-3-1914 vừa làm nơi thờ phượng Chúa, vừa truyền giảng, vừa tổ chức lớp học Kinh thánh. Đầu tháng 5 năm 1914, Hội thánh có thêm 3 người nhận lễ báp têm, trong số có một người nữ. Ngày 5-4-1914, lớp học Trường Chúa nhựt đầu tiên được khai giảng, có 7 học viên theo học, lúc đó giáo sĩ Hosler vừa soạn xong sách Tin Lành Giăng bằng chữ Nôm cho con cái Chúa đọc hoặc tham khảo. Năm sau (1915) tin mừng lớn cho các giáo sĩ, có thêm 3 người tin Chúa nữa, trong số có ông Hoàng Trọng Thừa, một người dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ ở Đà Nẵng, sinh ra trong gia đình khá giả, theo học chữ Hán 15 năm, rất hăng hái học Kinh thánh với các giáo sĩ mà còn ghi tên học Kinh thánh hàm thụ ở Trung Hoa nữa, ông bắt đầu đi giảng đạo với giáo sĩ E.F Irwin từ tháng 10 năm 1916, về sau trở thành Mục sư Việt Nam đầu tiên quản nhiệm Hội thánh Đà Nẵng, và là vị Hội Trưởng đầu tiên của Hội Thánh Tin Lành Việt Nam vào năm 1927.
Đang khi Tin Lành mới bước đầu chập chững, thì từ năm 1914-1918, Thế giới đại chiến thứ nhất bùng nỗ, liên minh Anh, Pháp, Nga kình chống và đánh nhau với liên minh Đức, Áo, Ý. Pháp và Đức trở thành thù địch trên chiến trường. Toàn quyền Pháp ở Việt Nam ra sắc lệnh cấm mọi hoạt động của các giáo sĩ ngoại quốc, mà còn trục xuất 4 giáo sĩ có tên gốc Đức nữa, bởi nghi kỵ họ làm gián điệp cho Đức. Song tạ ơn Chúa, tháng 4-1916, Giáo sĩ R.A Jaffray từ Trung Hoa đến Việt Nam, gặp viên Toàn quyền Pháp Albert Saurraut, giải thích về việc giảng Tin Lành của các giáo sĩ không hề liên hệ gì tới chính trị, nên từ đó các giáo sĩ có phần dễ dãi   hơn trong việc truyền giáo. Công việc Chúa bắt đầu có kết quả, số người tin Chúa tăng lên hàng trăm người, Tin Lành đồn ra nhiều nơi ở Trung kỳ, các Hội thánh lần lượt mở ra ở Hội An, Hải Châu (1918), Tam kỳ, Đại lộc, Qui Nhơn, Phú Yên, Nha Trang, Ninh Hoà. v.v...

Ở Bắc kỳ, các giáo sĩ lần lượt mở các Hội thánh ở Hà Nội, Hải Phòng, Vinh, Thanh Hóa, Hà Tây, Hoành Nhị, Nam Định, Hải Dương v.v... và nhà in Tin Lành Hà Nội do ông bà giáo sĩ R.A Cadman sáng lập và quản lý (1918) in các sách chứng đạo và một số sách liên quan tới Hội thánh giúp công cuộc truyền giáo thuận tiện hơn.

Ở Nam kỳ, có 21 tỉnh thành, dân số lúc bấy giờ khoảng 3.065.000 người, riêng thành phố Sàigòn có 250.000 dân trong số có 5000 người Âu. Tới năm 1918, mới được chính quyền cho phép lập trụ sở giảng Tin Lành. Hai giáo sĩ JD Olsen và IR Stebbins được cử đến Sàigòn học tiếng Pháp và tiếng Việt song song với việc thiết lập cơ sở truyền giáo. Năm 1919, một nhà nguyện đầu tiên ở Sàigòn được dựng lên. Năm 1920, có 7 người tin Chúa, các Truyền đạo Hoàng Trọng Thừa, Nguyễn Hữu Đinh, Đoàn văn Khánh từ Đà Nẵng vào Sàigòn hiệp tác giảng đạo. Đến năm 1922, giáo sĩ IR Stebbins cùng TĐ Nguyễn Hữu Đinh đến đặt cơ sở ở Sa đéc truyền giáo, trong khi đó thì giáo sĩ Jackson đi Cần thơ, Giáo sĩ Grupes cùng với TĐ Lê văn Long đi Châu đốc truyền giáo cho người Việt, người Hoa, người Miên và cả người Chà ở Châu giang kế cận đó. Còn giáo sĩ Curwen Smith thì năm 1923, tới Mỹ tho với một truyền đạo, mua được cơ sở đặt nền móng cho việc truyền bá Tin Lành. Chẳng bao lâu nhiều Hội thánh như Sàigòn, Chợ Lớn (người Hoa), Biên Hoà, Mỹ tho, Tân an, Thủ thừa, Gò công, Long hựu, An hóa, Tân Thạch, Bến tre, Bình đại, Quới sơn, Cai lậy, Sa đéc, Cái tàu hạ, Vĩnh long, Cao lãnh, Trà vinh, Cần thơ, Bạc liêu, Cà mau, Rach giá, Long xuyên, Châu đốc, Bình long (gần Châu đốc) v.v... được thành lập. Tính đến năm 1927, Hội thánh Tin Lành Việt Nam có tất cả 74 Hội thánh trên toàn quốc và số tín đồ chính thức vào khoảng 4.326 người. Sự tăng trưởng của Hội thánh như sau: Năm 1921 có 180 tín hữu, năm 1924 có 1671 người, năm 1925 có 2939 người, đến năm 1927 tăng đến con số 4326 người như trên.

Ngoài công tác giảng đạo, thành lập Hội thánh, Hội thánh Tin Lành Việt Nam trong giai đoạn đầu thành lập, đã thực hiện được các công việc quan trọng sau đây:

*Từ năm 1916-1924, Các giáo sĩ nỗ lực dịch Kinh thánh ra tiếng Việt gây dựng đời sống thuộc linh cho con cái Chúa. Ban phiên dịch Kinh thánh gồm có các thành viên sau đây: Giáo sĩ William C. Cadman, giáo sĩ John D. Olsen cùng một số học giả Việt Nam được mời dự  phần trợ giúp như nhà văn Phan Khôi, ông Trần văn Dõng, cụ Tú Phúc và một vài người khác nữa. Công tác phiên dịch được chia làm hai nhóm: Nhóm dịch Tân ước gồm các ông Olsen và ông Trần văn Dõng, dịch xong năm 1922. Nhóm dịch Cựu ước gồm có ông và bà Cadman, Phan Khôi. Cadman thông thạo tiếng Anh, tiếng Pháp, Hi lạp, Hi bá lai và cả Hán ngữ, trong khi bà Cadman có bằng cao học về cổ ngữ nên được đặc trách về ngữ pháp, còn Phan Khôi thông thạo tiếng Pháp, chữ Hán và Việt, đảm trách từ ngữ, lối hành văn, đến cuối năm 1925 thì hoàn tất. Toàn bộ Kinh thánh được in xong tại nhà in Hà Nội năm 1926 và được phát hành trên toàn quốc. Nhờ đó, đời sống thuộc linh con cái Chúa trưởng thành, đức tin của tín hữu vững vàng, hàng năm số người tin Chúa tăng lên, hàng ngàn người nhận báp têm mỗi năm.

*Năm 1921, Trường Kinh thánh Đà Nẵng được thành lập trong nhà chứa xe ngựa, nhằm mục đích đào tạo người phục vụ Chúa, do giáo sĩ D.I Jeffrey làm đốc học, có 9 sinh viên theo học, dạy theo chương trình của trường thần học Nyack ở New York. Đến năm 1928, trường mới hoàn thành đầy đủ tiện nghi phòng ốc xứng tầm với một trường Kinh thánh chính quy với thành phần giáo sư gồm 4 giáo sĩ và 3 Mục sư Việt Nam giảng dạy. Chương trình học 5 năm, 2 năm tại trường, về Hội thánh địa phương thực tập 2 năm và năm thứ 5 trở lại học tốt nghiệp. Nhờ đó, Hội thánh có được những Mục sư, Truyền đạo đầy đủ khả năng và tư cách xây dựng nhà Chúa cho cánh đồng truyền giáo rộng mở.

*Khởi từ năm 1924, 1925,1926, Hội thánh mỗi năm đều tổ chức tại Đà Nẵng các Hội Đồng Bồi Linh cho con cái Chúa. Tới năm 1927, Hội thánh tổ chức Hội Đồng Tổng Liên Hội đầu tiên, nhưng được kể là lần thứ 4, dù 3 Hội Đồng trước là Hội Đồng bồi linh. Tại Hội Đồng nầy, có 50 đại biểu, trong số có 4 đại biểu tín đồ. Hội Đồng bầu ra Ban Trị sự Tổng Liên Hội lâm thời với nhiệm kỳ một năm để điều hành công việc Chúa chung, với thành phần như sau:

-Hội trưởng: Mục sư Hoàng Trọng Thừa
-Phó Hội trưởng: Mục sư Trần Dĩnh
-Tổng Thư ký: Mục sư Dương Nhữ Tiếp
-Tổng Thủ quỹ: Ông Trần Thành Long (tín đồ Cần thơ)
-Hội viên: Mục sư Lê văn Long

*Hội Đồng Tổng Liên Hội năm 1927 đã đặt nền móng cho sự hình thành của Hội thánh Tin Lành Việt Nam, một ủy ban được đề cử soạn thảo bản điều lệ cho Hội thánh gồm các giáo sĩ J.D Olsen, E.F Irwin, W.C Cadman, D.J Jeffrey và I.R Stebbins. Đến Hội Đồng Tổng Liên Hội lần thứ V, tổ chức tại Đà Nẵng từ ngày 26 tháng 6 đến 5 tháng 7-1928, bản dự thảo điều lệ đã được Đại hội thông qua đưa vào thi hành gồm 37 chương, 136 mục, mỗi mục từ 2 đến 10 khoản, từ tên Hội thánh, tôn chỉ của Hội thánh đến tổ chức hành chánh, giáo nghi cùng tín lý của Hội thánh. Đây là pháp lý căn bản xây dựng, điều hành và phát triển  Hội thánh chung trên toàn nước, với tên gọi : Hội Tin Lành Đông Pháp, vì lúc bấy giờ Hội thánh trách nhiệm cả Đông Dương gồm Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao.

Cũng tại Hội Đồng nầy, bắt đầu phân chia Hội Thánh Tin Lành Việt Nam thành hai Hạt : Bắc Trung Hạt, từ Ninh Thuận trở ra Bắc, do Mục sư Trần Xuân Phan làm Chủ Nhiệm. Nam Hạt từ Bình Thuận trở vào Nam, do Mục sư Bùi Tự Do làm Chủ Nhiệm. Ban Trị Sự Tổng Liên Hội được bầu mới như sau:

-Hội trưởng: Mục sư Dương Nhữ Tiếp
-Phó Hội trưởng: Mục sư Trần Xuân Phan
-Tổng Thư ký: Mục sư Đoàn văn Khánh.

Tới đây, Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đã có khá nhiều chi hội, đào tạo được một số Mục sư, truyền đạo, có Kinh thánh, có điều lệ, có cơ cấu tổ chức điều hành, có quyển thơ thánh (thánh ca) in tháng 12 năm 1917, gồm 100 bài hát tôn vinh Chúa, có trường Kinh thánh huấn luyện, đào tạo người hầu việc Chúa, có nhà in, nhiều nơi có nhà thờ. Dù các giáo sĩ bị cấm đoán bởi cả chính quyền Pháp lẫn Triều đình Huế, dù có một số Hội thánh bị đóng cửa, nhưng nhìn chung Hội thánh bắt đầu mở rộng và vững lập. Cũng thời điểm năm 1928 nầy, Ban Trị Sư Tổng Liên Hội khởi sự đệ đơn lên chính phủ Pháp xin «tư cách pháp nhân» cho Hội thánh Tin Lành Việt Nam
.


Đuốc Thiêng 104

01 Khắc phụng bản năng - ĐTPÂ
02 Hãy cảm tạ Chúa - Mục sư Nguyễn Văn Bình
03 Thơ: Kỷ niệm 100 năm Tin Lành Việt Nam - Trần Nguyên Lam Bửu
04 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (1/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
05 Thơ: 100 năm kỷ niệm Tin Lành đến Việt Nam - Đức Huy
06 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (2/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
07 Thơ: Tạ ơn Chúa 100 năm Tin Lành đến Việt Nam - Đức Huy
08 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (3/4) - Mục sư Trần Hữu Thành
09 Người nữ khôn ngoan - Bà MS Nguyễn Văn Bình
10 Lịch sử 100 năm Tin Lành Việt Nam (4/4) - Mục sư Nguyễn Văn Bình
11 Nỗi lòng người đầy tớ Chúa - Bà Lê Văn Bắc
12 Một trăm năm Tin Lành đến Việt Nam - Mục sư Trần Hữu Thành
13 Thử hình dung con tàu Nôê của những ngày sắp đến - Dr Trương Hoàng Lâm
14 Tin Tức - Vinh Bằng
15 Thơ: Không tiếc, mãi yêu - Võ Chánh Tiết